Hòa bình khó nhọc

Tác giả: Nguyên Ngọc
KD: Bạn bè gửi cho bài viết này- một chương Hồi ký của Nhà văn Nguyên Ngọc cùng lời dẫn của trang diendan.org. Đọc và cảm nhận mơ hồ sự quẫy đạp tìm kiếm một cách đau đớn của một cây bút Rừng Tây Nguyên nổi tiếng- đúng như cái title hồi ký “Hòa bình khó nhọc”. Xin đăng để bạn đọc nhận thức tùy trình độ, phông văn hóa mỗi người 
————————————— 
Nhà văn Nguyên Ngọc. Ảnh: NAG Nguyễn Đình Toán

Mở fanpage mới, thầy giáo Stark bắt học sinh phải giải đề toán mới cho gia nhập
Wednesday July 17, 2019

Phải giỏi toán mới được làm thành viên của page. Mùa giải này fan hâm mộ của Đại đế không được theo dõi Stark tham gia thi đấu. Thay vào đó anh lui về nghỉ dưỡng và tập trung vào làm streamer. Bên cạnh việc vào rank gánh team thì Stark còn kiêm luôn công […]

The post Mở fanpage mới, thầy giáo Stark bắt học sinh phải giải đề toán mới cho gia nhập appeared first on Bong88 Club.

Đôi lời cùng bạn đọc
Diễn Đàn xin đăng dưới đây, lần đầu tiên, toàn văn một chương hồi ký của nhà văn Nguyên Ngọc. Bắt đầu từ năm 1978, khi ông được cử làm phó tổng thư ký Hội nhà văn Việt Nam, bí thư Đảng đoàn Hội nhà văn, viết bản “Đề dẫn” đọc trước hội nghị đảng viên – bản “đề dẫn” cho đến nay chưa hề được công bố ở trong nước, và đã gây sóng gió một thời – chương hồi ký kết thúc ở thời điểm cuối năm 1988, khi tác giả phải chấm dứt công việc Tổng biên tập báo Văn Nghệ – độc giả còn nhớ mãi những số báo Văn Nghệ “thời Nguyên Ngọc”.
Tôi được gặp Nguyên Ngọc, lần đầu tiên, vào mùa hè 1981, tại trụ sở “phía nam” của báo Văn Nghệ, 43 Đồng Khởi, Sài Gòn. Đến thăm nhà thơ Nguyễn Duy, như mọi lần, và lần này tình cờ được gặp tác giả “Đất nước đứng lên”, “Đường chúng ta đi”, “Đất Quảng I”, và tác giả “Con trâu” (nhà văn Nguyễn Văn Bổng) vừa từ Hà Nội vào.
Không cần nhắc, mọi người đều nhớ tình hình Việt Nam khó khăn ra sao vào đầu thập niên 80 (chiến tranh Campuchia, Trung Quốc tiếp tục bắn phá ở biên giới sau khi thất bại trong cuộc chiến “dạy cho Việt Nam một bài học” 1979, Mỹ cấm vận, thuyền nhân, kinh tế khủng hoảng..). Làm báo Việt kiều, tôi càng lo lắng thêm khi đọc bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên (hình như dưới một bút hiệu khác, nhưng dễ nhận ra văn phong tác giả) lên án một đường lối văn nghệ “chống Đảng” thể hiện qua một bản “đề dẫn” (không nói tên ai viết) và bài viết nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến về “văn học phải đạo”. Giọng điệu của họ Chế khiến tôi tự hỏi : sẽ có chăng một vụ Nhân vân Giai phẩm ? rồi hậu quả sẽ ghê gớm đến đâu ?
Chính vì nỗi lo ấy, mà ngay phút đầu, hai anh vừa ở Hà Nội vào, tôi vừa chân ướt chân ráo từ Paris về, tôi đánh liều hỏi thẳng thừng : chuyện gì đang xảy ra ở Hội nhà văn, tại sao anh Chế Lan Viên viết như vậy ? Điều khá bất ngờ, là gần như ngay tức khắc, anh Nguyên Ngọc đã trả lời không tránh né, tuy ngắn gọn, nhưng đủ để tối hiểu bản chất vấn đề. Năm sau, tôi bị cấm cửa, mãi mùa thu 2001 mới có visa về nước. Ở Hà Nội, đến thăm anh Nguyễn Văn Bổng. Nhắc lại cuộc gặp trước, hè 1981, anh Bổng mỉm cười, nói sau đó Nguyên Ngọc nói với anh, câu hỏi thật bất ngờ, lại đến từ một người chưa quen biết, từ xa về, nhưng anh ấy đã quyết định trả lời thẳng thắn. Quan hệ giữa chúng tôi đã bắt đầu từ cuộc hỏi thẳng thừng, đáp thẳng thắn như thế. Từ đó là gần ba mươi năm. Những năm đổi mới, báo Văn Nghệ khởi sắc, tôi vẫn bị cấm cửa, nên chỉ trao đổi với anh bằng những dòng thư ngắn. Sau này, ở Paris, hay trên đường xe hơi chở anh sang dự hội thảo hè ở Munich, hay chuyến đi thăm Đà Nẵng, Tam Kỳ, được anh dẫn đi ăn mì Quảng, tôi có thời gian trò chuyện với anh, nhưng chủ yếu chỉ nói chuyện hiện tại, chuyện dự án (anh dự định mở Trường đại học Phan Châu Trinh ở Hội An, rồi lập Quỹ văn hoá Phan Châu Trinh…). Tôi không hỏi anh về thời gian 1978-88 ở Hội nhà văn, có lẽ chỉ vì muốn tiết kiệm thời giờ. Khi có dịp nói về quá khứ, tôi thường hỏi anh về Khu V thời kháng chiến chín năm và thời đánh Mỹ vì đó là địa điểm và thời điểm tôi ít hiểu biết… Còn một lẽ nữa, là khoảng giữa thập niên 90, một người bạn thân của anh ghé qua Pháp, đã cho tôi một bản chụp bản thảo chương hồi ký Hoà Bình Khó Nhọc, với điều kiện “chỉ để anh đọc, không đưa ai, không nói với ai”.
Quen làm báo, tuân thủ nguyên tắc bảo vệ nguồn tin, tôi giữ đúng lời hứa, đọc xong cất kỹ. Kỹ tới mức đôi khi muốn đọc lại mà tìm không ra. Vừa qua, đi xem phim Trang giấy trằng của đạo diễn Hồ Quang Minh, trong cuộc thảo luận của câu lạc bộ YĐA xoáy quanh tình hình Campuchia dưới thời Pôn Pốt, tôi chợt nhớ tới những trang viết của Nguyên Ngọc về chuyến đi “quyết định” của anh năm 1979 ở Campuchia, và hứa với các bạn, tôi đang dọn nhà, cho mấy ngàn cuốn sách vào thùng để tặng các thư viện, sẽ cố tìm lại tập hồi ký Nguyên Ngọc và xin phép công bố.
May thay, năm ngày sau, mở ra thùng các-tông gần chót trong phòng, tôi tìm ra 35 trang ấy. Sau một đêm đọc lại, tôi viết ngay thư cho tác giả, đề nghị, nếu anh không tính đợi khi hoàn thành hồi ký mới công bố, thì thiết tha mong anh cho công bố ngay tập bản thảo, mà chủ đề là câu chuyện văn học và không khí chính trị Việt Nam cách đây vừa đúng 40 – 30 năm ; và nếu anh dành cho Diễn Đàn vinh dự ấy, thì tôi sẽ xung phong làm “cậu đánh máy” vì thấy có khả năng “giải mã” mấy chục trang viết tay “xấu như đơn thuốc bác sĩ” của anh.
Dưới đây là toàn văn chương hồi ký ấy của nhà văn Nguyên Ngọc. Nó đã được tác giả kiểm lại, không thay đổi, chỉ thêm một đoạn (chữ nghiêng) để giữ mạch lạc giữa hai phần của chương sách.
Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc. Cùng với lời cảm ơn tác giả, chúng tôi mong nhà văn Nguyên Ngọc sớm hoàn thành tập hồi ký chứng từ quý báu này.
Nguyễn Ngọc Giao
15.6.2019
                                     ************************************
Giữa năm 1978, từchiến trường miền Nam ra và đang ở4 Lý Nam Đế1, tôi được quân đội gửi đi học trường Nguyễn Ái Quốc. Học chưa xong, lại có lệnh gọi về: Ban bí thưTrung ương Đảng vừa quyết định thành lập Đảng đoàn Hội nhàvăn Việt Nam. Đảng đoàn gồm chín người: Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, ChếLan Viên, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn, Giang Nam, Nguyễn Khải, Anh Đức và tôi. Tôi được chỉđịnh làm bí thư. Đểtiện công việc, một Hội nghịBan chấp hành Hội Nhà văn bổsung tôilàm phó tổng thư ký Hội (hội nghịlà hình thức thôi, ai cũng biết). Tổng thư ký: Nguyễn Đình Thi. Một phó tổng thưký nữa: Tô Hoài. Theo chỗtôi biết, tất cảlà do ông TốHữu xếp đặt. Ýđịnh khá rõ: tạo một ê-kíp lãnh đạo mới, trẻ, đồng thời bảo đảm “có sựkếtục” –đường lối cán bộcủa ta trước nay vẫn thế.Tôi còn giữđược một chiếc ảnh chụp ởghếđá trước sân Hội, 65 Nguyễn Du, dịp Đảng đoàn họp phiên đầu tiên. Trong ảnh vắng Tô Hoài và Hoàng Trung Thông. Tô Hoài lỉnh đi đâu đó, tính anh vẫn thế. Còn Hoàng Trung Thông thì chắc chắn là đi uống rượu.
Đảng đoàn Hội Nhà văn Việt Nam năm 1979Hàng đứng:Nông Quóc Chấn, Trần Độ(Trưởng ban Văn Hóa Văn nghệTrung ương), Nguyễn Khải, Hoàng Trung Nho (phái viên Ban Văn hóa Văn nghệTrung ương), Vương Linh(Chánh văn phòng Hội Nhà văn)Hàng ngồi:Giang Nam, ChếLan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Ngọc, Anh Đức
Nhìn ảnh tôi kinh ngạc: ngày ấy, 1978-79, tôi vẫn còn trẻ thế. Sau mười mấy năm chiến trường miền Nam trông tôi vẫn còn rất thư sinh, nho nhã, trán chưa một nếp nhăn, tóc đen tuyền, hơi gầy, và có vẻ vô tư… Ra hòa bình, và cuộc vật lộn trong cái hòa bình đó lại làm mình già đi nhanh gấp mấy lần chiến tranh. Cũng phải thôi. Gập ghềnh, ác liệt hơn nhiều… … Mấy năm sau 1975, tôi vẫn chưa viết được gì. Văn nghệ Quân đội tung một số anh em đi các chiến trường cũ, viết về cuộc đại thắng 75. Nguyễn Khải viết Tháng ba Tây Nguyên, Xuân Thiều Mùa mai đỏ, Hữu Mai, Hồ Phương, Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh… đều có sách. Riêng tôi, đi rồi về tay không. Đất Quảng tập II, tập III viết rồi lại xé. Rồi lại viết, lại xé. Lại viết, lại xé. Con gái tôi bắt đầu học chuyên Toán, bảo : – Bố cứ viết thật nhiều đi, để con có giấy làm nháp toán. Mẹ nó mắng : – Hỗn ! Nhưng cô ấy mừng : con bé hóm, tức là thông minh. Cô vẫn lo nó bị ảnh hưởng chất độc hóa học của bố mẹ, trí óc phát triển không bình thường. Hồi 1971-72 ở chiến trường tôi không viết tiếp được Đất Quảng vì bị Giả của tôi đâm một phát đúng tim 2i , choáng váng. Bây giờ không phải thế nữa. Không thể đổ lỗi cho nhân vật nữa. Vết thương cũ đã nguôi ngoai. Hàng nghìn trang bản thảo bị xé vì cầm bút lên, lại… Đường chúng ta đi 3 ! Quán tính rất mạnh. Tôi muốn cưỡng lại. Cưỡng không nổi. Muốn viết khác, biết phải viết khác. Nhưng khác thế nào ? Chưa biết. Những ngày ấy, chắc chẳng ai ngờ, tôi thành một kẻ thất nghiệp hoàn toàn. Ngày ngày lao vào làm đủ thứ công việc eo sèo của một cặp vợ chồng son ngơ ngác và vụng về. Giặt giũ quần áo cho vợ cho con, bốn giờ sáng đã dậy, hối hả chạy ra cửa hàng Đặng Dung chen lấn với mấy bà nội trợ và một lô bà phục vụ của các ông to giành giật xếp cho được một hòn gạch để chen lấy chỗ mua cho vợ được một cái chân giò, một lạng thịt nạc. Lại chen chúc đi đong gạo, mua dầu, mua cá biển đầy xương là xương và ướp đá lạnh ngắt từ Hải Phòng chở lên. Chen chúc, cả chửi bới nữa, van xin, lạy lục nữa cũng có để xin cho được một cái phiếu sữa, một phiếu đậu phụ… Rồi nấu nướng. Rồi bế con đi nhà trẻ. Rồi dẫn con đi mẫu giáo. Rồi lo cho con vào cấp I, vào chuyên toán… Bận rộn, tíu tít, cố mà bận rộn, mà tíu tít, tự đánh lừa mình và đánh lừa bạn bè… để khỏi phải ngồi vào bàn, đối mặt với trang giấy trắng, khỏi phải viết. Bởi vì biết viết thế nào ? Bí rị. Chữ viết ra cứ nằm bẹp trên mặt giấy, chết khô, chán ngán ! Thật ra, cố mà bận rộn vẫn không hết được thì giờ. Vẫn cứ rảnh rỗi một cách xấu hổ, đau đớn. Tôi lêu lổng khắp các phố, nhiều đêm lang thang ngắm các cô gái Hà Nội mới lớn lên, đẹp không chịu được mà nói tục cũng không chịu được. Lêu lổng như một thằng ma-càbông vô nghề nghiệp, vô tích sự. Nửa đêm mới về. Vợ tôi không bao giờ nghi chồng. Cô chỉ lo : – Sao anh về khuya thế ? – Anh đi có việc. 3 – Thôi anh nằm xuống đây, nhè nhẹ cho con ngủ. Anh sờ trán xem, hình như nó hơi ấm. Tôi không dám nói với vợ cái điều ghê gớm này : tôi là một thằng bất tài. Anh có biết cái cảm giác ấy không ? Anh cầm bút mấy chục năm trời, anh có tác phẩm, có danh tiếng, sách được đưa cả vào chương trình nhà trường, trung học, đại học, sinh viên làm cả luận văn về anh, các thầy ra rả giảng dạy về anh…, vậy rồi đến một lúc, tự anh, anh mới nhận ra : có lẽ nhầm đường, nhầm nghề mất rồi. Tất cả những cái đã qua chỉ là tình cờ, ngẫu nhiên, chó ngáp phải ruồi, chứ thật sự anh chẳng có tài cán gì ráo. Anh không thể, không phải là nhà văn. Nhà văn sao chẳng viết được gì, chẳng biết viết gì cả. Nhiều bạn bè rất thân bảo tôi : – Mày cầu toàn bỏ mẹ. Cứ viết bừa đi. Có cái hay cái dở là chuyện thường. Viết đi. Vốn sống đầy ắp ra đấy. Cầu toàn ! Lời trách nghe rất sang trọng. Tôi im lặng, một cách dối trá, để cho người ta trách. Để không viết, chưa viết chỉ vì quá cầu toàn, sang quá, oai quá rồi còn gì ! Thật ra, lần này thì tôi không tự dối mình, không những tôi không biết viết thế nào, đơn giản hơn nhiều : tôi không biết viết gì cả. Chẳng có gì trong mình để viết ra cả. Sau này tôi có đọc ở đâu đó của nhà phê bình Pháp rất tinh tế Maurice Blanchot : “ Dấu hiệu chứng tỏ tầm quan trọng của một nhà văn, là ở chỗ anh ta chẳng có gì để nói cả ” 1 . Tất nhiên, tôi là loại nhà văn chẳng có tầm quan trọng gì. Nhưng sao cái ông Blanchot tận bên Tây ấy giỏi thế ! Tầm quan trọng của bước chuyển của một nền văn học là ở chỗ nó đột ngột cảm thấy “ chẳng có gì để nói cả ”. Một khoảng chân không tuyệt đối. Cái cũ đã nói rồi. Cái mới chưa có. Tôi cho rằng v 4 ăn học ta khoảng từ 75 đến gần 80 là như vậy (thời gian cụ thể nói ở đây chẳng có gì chắc chắn lắm đâu). Không làm gì có chân không tuyệt đối. Vẫn có vật chất và vận động trong ấy. Cái cũ “ đã nói rồi ” vẫn còn lải nhải được nói tiếp, nhạt nhẽo, vô vị, theo quán tính. Và cái mới đã manh nha đâu đó, mơ hồ, mò tìm, cảm giác, thiểu số, rất thiểu số. Có lẽ Nguyễn Minh Châu là một trong ít người cảm giác ra sớm hơn cả. Nhưng anh không nói, cả với tôi, dẫu chắc anh có biết tôi cũng đang đau khổ đi tìm. Anh quờ quạng viết. Hãy nhớ lại một ít truyện ngắn Nguyễn Minh Châu ngày ấy. Đọc rất khó hiểu, chẳng biết anh định nói cái gì. Có lẽ chính anh cũng không hiểu. Anh mới cảm giác thôi. Tôi thua anh xa. Tôi cảm giác kém hơn, mơ hồ hơn. Và tôi im lặng. … Tôi bắt đầu làm bí thư Đảng đoàn Hội Nhà văn trong tình trạng như vậy, chắc ông Tố Hữu khi sắp xếp tôi không hề ngờ đã giao trọng trách cho một kẻ dao động đến thế. 4 Duy có một điều – điều này chính cuộc chiến đấu lâu dài, chính Đảng đã rèn luyện cho tôi – : tôi biết phải thay đổi, quyết phải thay đổi. Không phải chỉ tôi. Cả văn học ta. Một hôm tôi đến làm việc với anh Trần Độ, bấy giờ là phó ban tuyên huấn, trực tiếp phụ trách văn hóa văn nghệ. Tôi có biết anh Trần Độ trước đây, đã lâu lắm, một lần tôi đi cùng anh Văn Phác xuống Quân khu Hữu ngạn đóng ở Nam Định, anh Độ đang làm chính ủy quân khu ở đấy, đâu khoảng 1960, 61. Biết, chứ chưa hề quen. Chống Mỹ, anh Độ ở Nam Bộ, tôi ở Khu 5, không hề gặp nhau. Tôi đến báo cáo với anh ý định công việc của Đảng đoàn. Cũng không còn nhớ hôm ấy tôi đã trình bày những gì. Đại thể là khá dông dài, suốt cả một buổi chiều. Anh Độ kiên nhẫn nghe. Cuối cùng tôi nói : cố gắng làm thế nào, giỏi thì khoảng mươi năm, dở thì mười lăm hai mươi năm, đưa văn học ta lên một bình diện khác, tạo nên được một số đỉnh cao mới. Anh Đ 5 Đi được là nhờ có Nguyễn Chí Trung. Sau 1975, Nguyễn Chí Trung tập hợp được một số anh em thành cái gọi là Trại sáng tác ở Đà Nẵng, nhà số 10 đường Lý Tự Trọng. Thu Bồn, Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Ngô Thế Oanh, Nguyễn Bảo, Bùi Minh Quốc, Thanh Quế, Trần Vũ Mai… Về sau, Trại giải thể, một số ở lại Quảng Nam, một số ra Hà Nội. Nguyễn Chí Trung về Văn nghệ Quân đội số 4 Lý Nam Đế. Tính Trung không ở nổi 4 Lý Nam Đế, tôi biết. Anh quá hăng hái, việc gì cũng xông vào, hết mình, can thiệp vào mọi việc, mọi chỗ, hết sức vô tư, chẳng có gì cho mình hết, một cái quần đùi, theo đúng nghĩa đen, cho riêng mình cũng không. Mà 4 Lý Nam Đế bây giờ đã khác, cuộc sống hòa bình đã khác. Mỗi người đã có cái riêng. Trung vừa hiểu vừa không hiểu… Sau một thời gian lục đục nội bộ ở Lý Nam Đế, Trung bỏ đi. Anh là người của chiến trường. Lại ra chiến trường. Đánh giặc cực giỏi. Tổ chức chiến đấu cực kỳ điêu luyện, thấu đáo, tỉ mỉ, tháo vát, thông minh, và dũng cảm ít ai bằng. Còn tổ chức cuộc sống thì cực vụng. Bị tất cả mọi người lừa một cách trắng trợn, dễ dàng, kể cả người thân, họ hàng. Một tính cách đặc biệt của Trung : nhất thiết phải có mặt ở những thời điểm, địa điểm của lịch sử. Anh mãi mãi là người của “ Đường chúng ta đi ”. Sáng 30 tháng 4-1975, trong khi chúng tôi còn lẽo đẽo hỏng xe ở Phan Rang, Phan Thiết, Trung đã có mặt trên cầu Cỏ May Vũng Tàu trong đội hình Sư đoàn 3 ; và ngay chiều đó lại có mặt ở Dinh Độc Lập Sài Gòn. Ngày 7 tháng 1-1979, Trung ngồi trên chiếc xe tăng đầu tiên đánh chiếm Nông Pênh. Trung quen, hiểu và có uy tín lớn trong tất cả các đơn vị quân ta ở Campuchia, kể cả các phi đoàn không quân, từ cấp tư lệnh tiền phương bộ tổng, cấp quân đoàn, cho đến đại đội, trung dội, tiểu đội. Anh em đùa : – Máy bay quân sự đang bay, cần đi nhờ, ông Trung vẫy một cái, nó dừng lại ngay. Trung tổ chức cho chúng tôi đi Campuchia bằng máy bay quân sự, từ Tân Sơn Nhất lên Nông Pênh, Nông Pênh về Tân Sơn Nhất, rồi lại Tân Sơn Nhất lên Xiêm Riệp, từ Xiêm Riệp lại trở về Nông Pênh. Đối với tôi, đó là chuyến đi quyết định. Tôi đến Xiêm Riệp, gặp anh Thuận, anh em quen gọi là Thuận Nẹt, để phân biệt với Thuận Lạc, anh này hồi ở trên núi thời chiến tranh, sáng ra đi vệ sinh sau nhà, chẳng biết làm thế nào đi lạc luôn trong rừng suốt một tuần. Thuận Nẹt là người quen cũ thời chống Mỹ, bây giờ làm tư lệnh Mặt trận Xiêm Riệp, cỡ tương đương tư lệnh quân đoàn. Đến Xiêm Riệp, đương nhiên phải đi thăm Angkor. Tàn quân Pôn Pốt vẫn còn bắn tỉa. Tư lệnh Thuận cho một đại đội có cả xe tăng đi trước dọn đường và bố trí bảo vệ chúng tôi đi xem Angkor. Tôi gặp may : người hướng dẫn tôi hôm đó là Vik Keo. Phải nói rõ điều này : người Pháp có công lớn với Angkor. Họ đã phát hiện ra Angkor, đã công phu bền bỉ nghiên cứu, gìn giữ, tu bổ công trình nghệ thuật kỳ vĩ này cho Campuchia, cho nhân loại. Họ có những chuyên gia tuyệt vời về Angkor và suốt hơn trăm năm họ đào tạo cả một đội ngũ những người chuyên bảo tồn Angkor (conservateur d’Angkor) hết sức thông thạo, có hiểu biết chuyên môn và nghệ thuật cao, say mê, suốt đời sống và chết vì Angkor. Cho đến trước 1975 ở Campuchia còn được 50 nhà bảo tồn Angkor quý giá như vậy. Bọn Pôn Pốt tàn sát hết. Còn sống sót duy nhất một người : Vik Keo. Còn ta, ta có mỗi cái đàn Nam Giao, đã bị một “ nhà văn hoá ” phá mất ! 6 Angkor là cả một thế giới, toàn bằng đá, hoàn chỉnh, trọn vẹn, mênh mông, phong phú và hài hòa, tương đương với cái thế giới ta đang sống đây, có lẽ còn hơn thế nữa. Và Vik Keo, như một vị đạo sĩ giàu phép thần thông, dẫn tôi đi vào cái thế giới vừa khép kín vừa không cùng ấy. Anh thuộc lòng từng phiến đá, từng mẩu rêu, từng nét cong và từng vành môi mỗi pho tượng. Anh thì thầm kể cho tôi, dạy cho tôi tỏ, chi tiết mà không vụn vặt, bao quát mà lại tỉ mỉ về cái thế giới Angkor của anh, tôi như một chàng Lưu Nguyễn may mắn được một vị thần linh cầm tay dắt đi và giảng giải thâm trầm về buổi hình thành, sự tồn tại và sự vĩnh cửu của vũ trụ. Tôi được chỉ cho biết trời đất đã được tạo lập nên như thế nào, buổi khai thiên lập địa đã từ hỗn mang được sắp xếp lại ra sao, con người từ đâu đến, để làm gì, và rồi sẽ đi đâu. Vik Keo nói và đá Angkor nói. Tôi như một kẻ tín đồ, vốn là một tên vô đạo bỗng một phút đốn ngộ, im lặng lắng nghe, không dám nói một lời, hỏi một câu. Bởi vì, đi trong Angkor, anh nghe không phải lời nói của con người, mà là sấm truyền của đá. Tiếng nói của tạo hóa… Chúng tôi lang thang từ mờ sáng đến sẩm tối, trong thế giới của đá, Angkor Thom, Angkor Wat, Bayon, Sân Voi… cho đến tận dãy “ hành lang ú tim ” (galerie de cache-cache) ngoằn ngoèo sâu lút đầu người, hẹp đến phải lách nghiêng người mới lọt qua được vậy mà hai vách vẫn đầy tượng là tượng, tuyệt đẹp, chẳng biết ai tạc, tạc để làm gì… Mãi đến lúc tưởng đã kết thúc cuộc hành trình kỳ diệu, Vik Keo bảo tôi, giọng rất nhỏ : – Còn một kỳ diệu này nữa, của riêng tôi, hôm nay tôi tặng anh. Anh nắm tay tôi, dẫn lên một đài đá cao, trước mặt là một tháp sừng sững : – Anh xem kìa ! Tôi ngử 7 Con người kỳ lạ đến thế đấy. Hình như các học thuyết của chúng ta đã ra sức giải thích con người một cách trần tục quá chăng ? Hãy đến Angkor một lần. Có thể anh sẽ bớt “ duy vật ” đi một ít. Cứ đến Angkor, cũng có thể anh sẽ nghĩ : hình như dân tộc này chẳng cần đến văn học nữa. Họ viết tiểu thuyết bằng đá. Và đã viết xong rồi ! Sao Angkor lại rơi vào tôi đúng lúc tôi về làm Đảng đoàn Hội Nhà văn ? Nó có khiến tôi bắt đầu hiểu nghệ thuật khác trước đi chăng ? Có phải trước nay chúng ta, cả chính tôi, đã hiểu về nó quá thực dụng ? Nó là gì trong đời sống con người ?… Thôi, ít ra Angkor cũng buộc tôi tự đặt cho mình những câu hỏi vớ vẩn như vậy… Những ngày Xiêm Riệp rất lạ. Hôm vừa bước xuống sân bay, anh Nguyễn Văn Bổng khóc òa. Nguyên là chúng tôi đến Xiêm Riệp bằng máy bay quân sự Liên Xô. Có một phi đội như vậy ở Tân Sơn Nhất. Hàng ngày bay Tân Sơn Nhất – Nông Pênh, Nông Pênh – Tân Sơn Nhất. Tân Sơn Nhất – Xiêm Riệp, Xiêm Riệp – Tân Sơn Nhất. Chở đồ tiếp tế sang cho bộ đội. Và chở thương binh về. Chúng tôi vừa đổ xuống sân bay Xiêm Riệp thì đã thấy ba, bốn chục thương binh ngồi chờ ở đấy để được đưa về Sài Gòn. Tất cả đều trẻ măng, má còn lông tơ. Thanh niên Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Nghệ Tĩnh… Và hầu như tất cả đều… cụt chân. Mìn Trung Quốc. Sân bay chẳng có nhà ga. Họ ngồi bệt ra đường băng. Những đôi chân chỉ còn một nửa, đến đầu gối, quấn băng trắng. Tôi quay mặt đi. Cố nén để khỏi kêu thét lên : Lại một cuộc chiến tranh nữa ư ? Đến bao giờ ? Mới sáng nay, mới một tiếng đồng hồ trước đây, là Sài Gòn. Là bia rượu. Là xô bồ. Là các thứ đấu tranh nội bộ, chen chúc, giành giật. Bỗng tất cả đều trở thành vô nghĩa. Tôi biết tôi yếu đuối và sai rồi. Cái bên kia, một giờ trước, là thật. Cái này cũng là thật. Đừng có lộn xộn, mơ hồ. Nhưng văn học làm gì ? Tại sao cứ thánh thót mãi một bản hùng ca quán tính ? Ở Xiêm Riệp, tôi làm quen với một đại đội trưởng trinh sát nổi tiếng tên là Trung, người Vĩnh Phú. Một đêm anh dẫn chúng tôi đi chơi trên Biển Hồ. Trong đời, chẳng dễ gì có một đêm kỳ thú như thế nữa. Trung quen khắp mặt dân Campuchia vùng này. Là ân nhân của rất nhiều gia đình người Khơme ở đây : đầu 1979, đại đội trinh sát của anh đã cứu hàng trăm người khỏi tay Pôn Pốt. Ở đây anh có vô số mẹ nuôi, chị nuôi, em nuôi. Anh về đây như về làng, về nhà. Hôm ấy tôi thấy rõ ràng có một cô gái Khơme yêu Trung đến mê mệt, bộc lộ, trắng trợn. Tôi bảo : – Đã sao, Trung ! 8 Trung nói : – Nhưng em đã có. – Vĩnh Phú à ? – Không, Sài Gòn. Éo le lắm, để rồi em sẽ kể anh nghe… Chúng tôi thả thuyền rong chơi Biển Hồ suốt đêm. Nghe dân Campuchia hát. Ăn cháo cá và uống rượu. Cá Biển Hồ, cứ vục tay xuống nước, túm lên ngay được một con, to tướng, béo ngậy. Trung kể cho tôi nghe trận anh suýt chết trên biên giới Thái Lan. Anh bị thương, và bị lạc, một mình, sang cả bên đất Thái. Chưa bao giờ tôi nghe nói về cái khát ghê gớm như vậy. Dãy Đang Rek, biên giới Miên-Thái, sáu tháng mưa tầm tã, sáu tháng khô, tuyệt không một giọt nước. Rừng toàn gai. Và mìn. Mìn dày hơn cả gai. Trung bị thương, lạc, và khát. Mười ngày. Ngày thứ ba, liếm hết giọt nước cuối cùng trong bình-đông. Ngày thứ năm, nuốt hết giọt nước đái cuối cùng tự mình cố sức rặn ra. Khát đến điên dại. Khát đến cháy thiêu tận từng tế bào. Xé hết quần áo. Khát đến hôn mê. Trung kể rằng trong một cơn mê, anh thấy anh thoả thuê uống cạn sạch cả cái Biển Hồ Tonlêsáp Campuchia. Một cơn mê khác, dữ tợn hơn, anh thấy anh bắt được một tên lính Pôn Pốt. Anh rút dao găm, đâm ngay vào cổ họng nó và… ừng ực uống cho kỳ hết máu. Lần ấy dân Khơme quanh Biển Hồ nhà nào cũng đã lập bàn thờ cúng anh bộ đội Trung. Nhưng rồi Trung trở về : đồng đội tìm được anh trên đất Thái, đúng lúc anh đang hấp hối… Người ta đã định phong tặng Anh hùng cho Trung. Nhưng Trung có một cái “ phốt ” nặng. Việc này, hai năm sau tôi mới biết. Ngày giải phóng Sài Gòn, Trung đi làm công tác quân quản một phường quận 10, gặp một cô gái gốc Huế, đâu quãng 16 hay 17 tuổi. Anh yêu. Cô gái thật đẹp. Về sau có lần họ dẫn nhau ra Hà Nội, có ghé lại thăm nhà tôi. Vợ tôi bảo : – Em mà là con trai, em cũng yêu mất ! Nhưng cô gái có một người anh là “ sĩ quan nguỵ ác ôn ” đang đi cải tạo. Đơn vị ngăn cản, tất nhiên. Trung không nghe. 1975-1979, rồi 80, 81. Bao nhiêu lần kiểm điểm, Trung một mực không chịu thua. Cuối cùng anh vứt tất cả, danh hiệu đảng viên, chức vụ đại đội trưởng trinh sát nổi tiếng, cả cái Anh hùng Quân đội suýt được phong…, tất cả, anh về Sài Gòn và cưới cô gái Huế của anh. Anh bị đuổi khỏi chiến trường. Năm ngoái vào Sài Gòn tôi có ghé thăm Trung. Anh chị ở Quận 10, trong một hẻm rất khó tìm. Họ đã có hai cháu và sống hạnh phúc. Bây giờ Trung làm một chân bảo vệ ở công viên Tao Đàn. Chị ở nhà, nội trợ. Chị bảo tôi : 9 – Đêm nào anh ấy về khuya quá, em lo cồn cào, chắc cũng giống như lần anh ấy sắp chết khát trên biên giới Thái… Cuộc sống, con người đấy. Sao văn học ta xoàng thế. Định từ Xiêm Riệp quay xuống Nông Pênh, nhưng máy bay không có chuyến, phải về Tân Sơn Nhất rồi mới quay lên. Nông Pênh khiến tôi bàng hoàng. Pôn Pốt là một cái gì đó rất kỳ lạ, có lẽ chỉ có một trong suốt lịch sử. Có người đã nói đến một thứ vũ khí sinh học gì gì đó, một cuộc chiến tranh tưởng tượng, chỉ giết sạch người, còn thì tất cả đều nguyên vẹn, không chút sứt mẻ. Nông Pênh sau Pôn Pốt là một thành phố như vậy, còn lại nguyên vẹn, không sứt mẻ. Tôi có đi thăm Hoàng Cung, Chùa Vàng, đài Độc Lập… Đến những pho tượng giát toàn vàng vẫn còn nguyên. Chỉ có con người đã biến mất. Nguyễn Chí Trung bảo tôi : – Ông có để ý không, tất cả các nhà đều không có số. Trung tinh thật. Nhà cửa còn nguyên, sang trọng, lịch sự. Chỉ có các số nhà đã bị xóa hết. Một dấu hiệu rất nhỏ của thời tàn phá Pôn Pốt : trên đời này không còn bất cứ cái gì có tên, có một số hiệu để gọi cũng không. Dấu vết tàn phá rõ nhất có thể thấy được có lẽ chỉ có cái nhà Ngân hàng : tiền riêng, hàng đống, vô số, mới tinh, rất đẹp, màu xanh và dài, từa tựa đồng đô-la, vứt đầy đường, từng xấp dày. Tôi có nhặt một xấp, mang về cho con gái tôi chơi, bây giờ vẫn còn : không có người, không có bất cứ sự quan hệ, giao lưu, đối thoại người-người nào nữa, nên đồng tiền vứt đi là phải. Tất cả còn nguyên. Chỉ có một cái biến mất : con người. Nó biến đi đâu ? Hàng triệu người bị giết, ta biết rồi. Hàng triệu người đã bị giết theo cách thức đơn giản nhất, thô sơ, nguyên thủy nhất : một nhát cuốc vào đầu. Tôi đến nhà tù Tuol Sleng, xưa là trường học. Tuol Sleng nay thành bảo tàng tội ác Pôn Pốt. Có một tấm bản đồ nước Campuchia lớn, c 10 Những ngày ở Nông Pênh, ở Campuchia, tôi hiểu ra điều này : Pôn Pốt chỉ giết những người muốn còn là một đơn vị. Một đơn vị người. Có tên, có tuổi, có quá khứ, có hiện tại, có tương lai, có số phận riêng, có cuộc đời riêng, có cái khác riêng, dấu hiệu riêng dầu nhỏ nhất của riêng mình. Nó không công nhận đơn vị, không công nhận cái riêng. Không có đơn vị. Chỉ có bầy. Không có sự hữu danh. Chỉ có bầy, tập thể vô danh. Bầy vô danh và hoàn toàn trong sạch. Gia đình, vợ-chồng, cha-mẹ, anh-em, bạn bè, xóm giềng, tình yêu, tình bạn… đều phải xóa hết, nghiền nát, hủy diệt hết. Dấu hiệu của cái riêng mà ! Đó là chủ nghĩa tập thể tuyệt đối. Cái đồng nhất tuyệt đối. Sự trong sạch nguyên khối, tuyệt đối. Lịch sử, các nền văn minh nối tiếp làm nên lịch sử đã làm cho bầy đàn hồng hoang vô danh, tiến hóa, biến dần thành những con người, từng đơn vị con người hữu danh. Lịch sử phải chấm dứt. Phải trả lại sự tinh nguyên ban đầu, sự trong sạch đồng khối nguyên vẹn đầu tiên và vĩnh cửu. Đó là chủ nghĩa Pôn Pốt. Nỗi kinh hoàng thảng thốt lớn nhất của nhân loại. Nó tìm ở đâu ra cái lý tưởng kinh hoàng ấy ? Ở Nông Pênh tôi gặp một cặp vợ chồng trí thức còn sống sót một cách kỳ diệu, anh là kiến trúc sư, từng học ở Nhật, ở Nga, chị là kiến trúc sư nội thất. Họ còn sống sót vì họ đã khéo léo tự vô danh hóa mình, tự diệt tính đơn vị của mình trước con mắt bọn Angka 5 . Anh chị nói cho tôi biết rằng cả Pôn Pốt lẫn Iêng Sari, và mấy tên lãnh tụ Khơme đỏ cao cấp nhất khác nữa đều từng học ở Pháp về. Chính ở phương Tây chúng học được, chúng nung nấu lòng căm thù đối với văn minh, mọi nền văn minh đã dẫn đến nền văn minh tư sản, bởi vì chính văn minh, đặc biệt văn minh tư sản, đã đưa đến sự phát hiện ra cá nhân sáng chói trong cộng đồng, dẫn đến sự hình thành cá nhân. Cá nhân là sa đọa. Chỉ có bầy đàn mới trong sạch… Mấy năm sau, trong một lần cãi nhau với Chế Lan Viên, anh ấy nói : – Loài người phát triển từ dị biệt đến đồng nhất, càng phát triển cao càng đồng nhất cao. Tôi, từ Campuchia trở về, tôi cãi : – Không đâu, ngược lại, loài người phát triển từ đồng nhất đến dị biệt. Đồng nhất cao trong sự dị biệt cao. Trong sự long lanh của từng cá thể. Đi ngược lại thì sẽ dẫn đến Pôn Pốt ! Nếu là xã hội chủ nghĩa, thì đó mới là chủ nghĩa xã hội. Còn có một thứ “ xã hội chủ nghĩa ” khác : chủ nghĩa xã hội Mao, và đỉnh cao của nó, chủ nghĩa xã hội Pôn Pốt. Đừng tưởng Pôn Pốt không thành tâm làm chủ nghĩa xã hội. Nó có lý tưởng lớn đấy: chủ nghĩa xã hội bầy đàn. 11 Chuyến Campuchia ấy đối với tôi là quyết định. Nó định hướng cho mọi suy nghĩ và công việc của tôi. * Công việc Hội nhà văn, ai từng ở đấy đều biết, muốn làm thì làm bao nhiêu cũng không hết ; không làm cũng chẳng sao. Người viết vẫn viết. Người viết hay cứ viết hay. Người viết tồi cứ viết tồi. Dạo ấy tôi cố gắng làm hai việc : hết sức góp phần lập trường Nguyễn Du. Và ra tờ Văn học nước ngoài. Trường Nguyễn Du là để cố gắng dần dần tạo một thế hệ cầm bút mới, đỡ thất học như chúng tôi. Tờ Văn học nước ngoài là cố gắng để cho kinh nghiệm văn học thế giới thẩm thấu dần vào ta. Xin mãi, không ra chính thức được, chúng tôi làm nội san vậy, in ronéo, in xê-len, rồi in typo. Có lần Bộ văn hóa muốn bêu diếu những anh bất hợp pháp, tổ chức triển lãm những tờ báo in lậu, Văn học nước ngoài cũng vinh dự có mặt trong cuộc đó. Anh Đào Xuân Quí giúp tôi trong công việc nội san này, bài vở, dịch thuật, mi báo, in ấn, gần như một mình anh ấy chống chọi. Văn phòng Hội kiềng riềng vì kinh phí không có, tiền báo không thu được. Tôi đánh bài lờ. Công việc linh tinh khác cũng nhiều : đối nội, đối ngoại, chế độ, chính sách, họp hành, trợ cấp, già, trẻ… Anh Tô Hoài cùng làm việc với tôi rất ăn ý. Đã làm, anh làm đến nơi đến chốn, và gọn, nhanh. Nguyễn Khải đêm nào cũng cùng tôi chụm đầu bàn bạc, trên căn phòng của anh ở 4 Lý Nam Đế. Anh em tâm đầu ý hợp. Công việc trước mắt là chuẩn bị Đại hội nhà văn lần thứ III. Đại hội II họp năm 1962, lúc ấy tôi đã vào Nam. Gần 15 năm rồi còn gì. Và riêng tôi, tôi nghĩ đã đến lúc có chuyện để mà họp. Để chuẩn bị cho một Đại hội có chất lượng, thật sự có chuyện mà nói, chúng tôi chủ trương triệu tập hội nghị đảng viên, thử cùng nhau bàn bạc trước một số vấn đề dự kiến sẽ đưa ra Đại hội. Tôi được phân công viết một tài liệu gọi là “ Đề dẫn ”, có tính cách gợi ý cho cuộc thảo luận sắp tới ở hội nghị. Anh Tô Hoài lo công việc hằng ngày ở Hội. Nguyễn Khải lo việc tổ chức hội nghị (danh sách đảng viên, triệu tập v.v…). Anh Nguyễn Đình Thi nói rõ : anh sẽ góp ý kiến mọi việc, nhưng xin để cho anh được dành nhiều thì giờ sáng tác. Giang Nam làm tổng biên tập báo Văn Nghệ. Các anh còn lại trong Đảng đoàn thì hoặc ở cơ quan khác, hoặc ở xa, ít trực tiếp tham gia công việc Hội. Tư tưởng của chúng tôi, ít ra của chính tôi, là khá rõ ràng, nhưng cách thức làm việc thì thật luộm thuộm và vội vã. Chúng tôi hối hả, lụp chụp chuẩn bị hội nghị đảng viên. Sau này nhớ lại, tôi có lần nghĩ : tại sao ngày ấy tôi lại hối hả như vậy. Chậm lại, chắc hơn, suy nghĩ, tính toán, viết Đề dẫn kỹ, chậm hơn ít nữa đã sao. Vậy mà tôi đã ngồi viết Đề dẫn hối hả, ngày đêm, bỏ ăn, bỏ ngủ, viết đến đâu in ronéo đến đấy, bộ máy văn phòng Hội cứ chạy tíu tít lên. Tại sao ? 12 Ra tôi vẫn là người sáng tác chứ không phải người lãnh đạo. Người lãnh đạo sẽ từ tốn hơn, cẩn thận hơn, biết kìm mình lại hơn, nhất là khi đang toan tính một việc lớn như thế này. Quả thật tôi có toan tính một việc lớn : bắt đầu cú đột phá cho sự thay đổi văn học mà tôi mường tượng từ lâu, nay đang rõ dần trong đầu, trong mong ước. Tôi bị sự thúc đẩy mãnh liệt hệt như người nghệ sĩ khi cảm hứng tích lũy từ rất lâu, rất lâu, chợt ào đến, không cầm bút, không chộp ngay lấy bảng màu, không ngồi ngay vào bàn… thì không kịp nữa, chậm mất, hỏng mất ! Tôi viết bản Đề dẫn hệt như sáng tác một thiên tùy bút, say mê, bị cuốn hút ngay bởi những ý tưởng vừa hiện hình trên trang giấy, ý tưởng này gợi ý tưởng kia, nối nhau, cuốn nhau, dồn lên nhau ào ào chảy ra. Tôi nói văn học ta từ sau 75 bỗng đột ngột lâm vào một tình trạng rất kỳ lạ : nó bỗng trở nên nhạt nhẽo. Người đọc, trước đây từng say mê nó thế, từng coi nó là đời sống tinh thần thắm thiết, thống thiết không thể thiếu của mình, nay bỗng đột ngột quay lưng lại với nó, thờ ơ. Họ không thèm đọc ta nữa. Họ đi đọc sách nước ngoài. Họ bỏ ta. Chính Chế Lan Viên ngày ấy, trong một cuộc họp Đảng đoàn, cũng nói : Sách bây giờ nhiều, nhưng tác phẩm thì không có. Vì sao ? Câu hỏi đầu tiên, bức bách, để đặt vấn đề mở đầu bản Đề dẫn là như vậy. Vì sao ? Tôi cố gắng cắt nghĩa : Bây giờ ta có thì giờ hơn, bình tĩnh, yên ổn hơn, hết chiến tranh rồi, kinh nghiệm cũng nhiều hơn, từng người viết, từng quyển sách viết ra rõ ràng khá hơn, văn chương chỉn chu hơn, chương hồi rành mạch khôn khéo hơn, sách “ hay ” hơn. Nhưng tất cả những cái hơn đó là để nói về một chuyện đã cũ, đã qua, đã xong. Chúng ta vẫn tiếp tục, theo quán tính, trả lời một câu hỏi cũ: sự mất còn của cộng đồng dân tộc trước hiểm họa ngoại xâm. Câu hỏi ấy, nóng cháy trong suốt thời kỳ trước, nay lịch sử đã trả lời xong rồi. Mà văn học thì cứ tiếp tục, theo quán tính, lải nhải trả lời một câu hỏi đã có lời giải rõ ràng của lịch sử. Trong khi lịch sử đã sang trang. Cuộc sống đã đặt ra những câu hỏi mới, một loạt câu hỏi mới. Người ta chán mình, bỏ mình là phải. Người ta đã đứng trước hàng vạn câu hỏi cháy lòng, ngồn ngang, phức tạp mới, mà sách của anh, viết hay hơn, dày hơn, in đẹp hơn, cứ lẩm cẩm vô duyên bắt họ nghe câu trả lời của anh về cái chuyện họ đã vượt qua rồi. Anh lạc hậu, đáng đời nhà anh ! Vậy vấn đề số một của văn học hiện nay, theo tôi, là tìm ra những câu hỏi mới của đời sống. Là nói về nó. Chính ông Tố Hữu ngày ấy cũng nói : 30 năm nay chúng ta mới giải quyết một vấn đề : sống hay là chết; bây giờ mới bắt đầu giải quyết vấn đề : sống như thế nào ? 13 Chính sự thay đổi câu hỏi cơ bản đó quyết định bước biến đổi cơ bản hôm nay của văn học. Vậy câu hỏi mới là gì ? Tôi quả quyết : vấn đề số phận chung của cộng đồng đã xong. Bây giờ là vấn đề số phận riêng của từng con người, trong cộng đồng. Trước kia chưa có câu hỏi đó, chưa thể đặt ra, nó chìm lấp trong câu hỏi lớn chung. Bây giờ nó trồi lên hàng đầu. Tư tưởng cơ bản của Đề dẫn là như vậy. Nó nêu vấn đề mà nó cho là lớn nhất của văn học bấy giờ ấy ra, và đề nghị hội nghị, rồi Đại hội cùng suy nghĩ, cùng thảo luận. Tất nhiên, tôi viết hối hả, dông dài, nhiều khi khá rối rắm, không chặt chẽ, nhưng cái ý tưởng ấy là rất rõ ràng. Tôi nói : công việc của văn học bây giờ là tham gia, là đi hàng đầu trong công cuộc giải phóng năng lượng tiềm tàng và vô tận của từng cá thể con người. Tôi nói : tập thể phải là sự tập hợp tự do và sinh động của từng cá thể tự do, và long lanh sáng tạo. Không thể là tập thể vô danh, vô chủ, tập thể bầy đàn… Những đêm tôi ngồi viết, Nguyễn Chí Trung thường đi tới. Anh hỏi : – Đến đâu rồi ? Tôi buông bút. Hai anh em ngồi trao đổi, bàn luận, tranh cãi. Nguyễn Chí Trung còn thấm Campuchia hơn cả tôi. Nguyễn Chí Trung là người rất lạ : anh là nhà quân sự thực thụ, hết sức thực tế, chi li, tỉ mỉ đến lạnh lùng trong tổ chức một chiến dịch, một trận đánh. Nhưng cũng lại là người nặng suy nghĩ trừu tượng, thích đi đến những kết luận khái quát lớn. Những con người như thế thì thường rất quyết liệt trong tư tưởng và hành động. Sau này nhiều người phê bình tôi, thường bảo : Nguyễn Chí Trung là đồng tác giả của bản Đề dẫn. Và như thế thì tôi rất vô nguyên tắc : Trung không có chân trong Đảng đoàn, ngay trong Ban chấp hành Hội cũng không. Thật tình bảo Trung là đồng tác giả cũng không hoàn toàn sai đâu. Từ Campuchia trở về, anh còn quyết liệt hơn cả tôi đối với cái chúng tôi gọi là xu hướng chủ nghĩa tập thể bầy đàn. Anh không trực tiếp tham gia bản Đề dẫn, nhưng anh làm rõ rệt, mạnh mẽ hơn những ý tưởng của tôi. Hai anh em ngồi bàn bạc đến khuya. Rồi Trung đi nằm. Tôi lại ngồi cắm cúi viết, đến sáng. Trung cũng không ngủ. Anh đang thao thức một khái quát lớn nào đó nữa để ngày mai anh sẽ nói với tôi, tôi biết. Nguyễn Khải cũng hay đến. Trong thâm tâm, ở chỗ lắng đọng sâu kín nhất của anh, Khải là một nghệ sĩ thực thụ. Chỉ có điều, trong một số hoàn cảnh căng thẳng, nguy hiểm trực tiếp nào đó, nhiều khi anh không đủ sức đừng để cho những lo toan khác lấn át, che lấp cái chất sâu kín ấy đi. Hồi bấy giờ chưa có nguy hiểm trực tiếp. Anh tâm đắc với mọi ý tưởng của tôi, có khi còn giúp tôi mài dũa cho những ý tưởng ấy sắc nhọn hơn… Bản Đề dẫn được viết rõ rệt nhưng vội vàng ấy, được thông qua trong tập thể Đảng đoàn cũng qua quýt vội vàng. Nguyễn Đinh Thi nói đôi ý kiến phân vân dè dặt. 14 Tô Hoài ừ ào, không nói gì, và khi làm cái động tác gọi là thông qua, anh đi ra ngoài có việc gì đó, không có mặt. Giang Nam bảo : mới, mới lắm. Chế Lan Viên bắt tay tôi : – Rất được. Ngay khi thông qua, có đoạn tôi còn chưa viết xong, chỉ trình bày những ý chính, các anh trao đổi, góp ý kiến, tôi về mới ngồi viết tiếp. Hội nghị được triệu tập cũng rất vội vàng, luộm thuộm, sai sót lung tung. Nhiều đảng viên không nhận được giấy mời. Vài người không phải là đảng viên cũng đến. Không khí rất vui. Cái kiểu họp nhà văn bao giờ chả thế : anh em đến, gặp nhau là vui rồi. Uống bia, bù khú, tán đủ thứ chuyện. Tôi đọc bản Đề dẫn. Mọi người đều ủng hộ. Cãi lại, chỉ có Vũ Đức Phúc. Anh ấy là một người “ bảo thủ chân chính ”, nhất quán, đến nay tôi vẫn tin thế. Anh Nguyễn Văn Bổng nói riêng với tôi : – Không phải ngẫu nhiên mà người ta cử cậu làm bí thư Đảng đoàn. Chưa hoàn chỉnh, nhưng được. Mở ra một cái gì mới. Anh Xuân Diệu nói : – Tớ thích nhất chỗ nói “ triết học ” về lịch sử phát triển con người. Có thế chứ. Nguyên Hồng cười ha hả. Hoàng Trung Thông vừa đi uống rượu ở đâu đó về, nói rất dài, lý luận nghiêm trang. Chúng tôi biết anh rồi : càng say càng lý luận nghiêm trang. Anh nói về nhu cầu phải giải phóng cho sáng tạo. Nguyễn Đình Thi cũng phát biểu dài, nói uyên bác đông tây kim cổ. Và tôi không nhớ rõ dẫn dắt như thế nào, anh lại nói đến những kinh nghiệm đau đớn của văn học Xô Viết : Essénine tự sát, Maiakovski cũng tự sát… Trong số những người hăng hái hơn cả, có Chế Lan Viên. Anh phản kích thông minh và cay độc những người bảo thủ, đòi cách chức Vũ Đức Phúc. Anh em trẻ càng vui hơn. Họ tố khổ sự kìm chế sáng tạo. Trước hội nghị vài ngày, tôi đã gửi bản Đề dẫn và giấy mời tới ông Tố Hữu. Ông đến vào ngày thứ hai của hội nghị. Chế Lan Viên ra đón tận cổng. Ông bước vào, đi ngang đến chỗ Nguyên Hồng, nắm lấy chòm râu Nguyên Hồng : – Râu thật hay râu giả ? 15 Nguyên Hồng chỉ cười. Nhưng không khí đột ngột không vui. Đám nhà văn vốn nhạy : có một cái gì khác thường rồi… Cho tôi ngừng lại một chút để nói về Nguyên Hồng. Vài năm sau, anh mất, rất đột ngột. Hôm trước, chúng tôi đang họp gì đó trên gác 65 Nguyễn Du, bỗng thấy Nguyên Hồng đẩy cửa bước vào. Vẫn như mọi lần, quần áo bà ba nâu lôi thôi bạc thếch, tóc bờm xờm, trông rất bẩn, chòm râu muối tiêu, mặt đỏ gay. Ý Nhi tả anh trong bài thơ rất đúng : tay ôm cặp bản thảo (có thể của người khác) to đùng. Nói oang oang : – Họp hả ?… Mình mới ở Quảng Ninh đến, chấm giúp cuộc thi cho chúng nó dưới ấy, vui lắm. Thôi chào. Họp thì cứ họp tiếp đi. Chào ! Nói xong quay ra ngay. Tôi tưởng anh sang phòng khác, thế nào cũng còn ở lại Hội chơi một hai bữa như thường lệ, đi uống rượu với ông Nguyễn Tuân, ông Tô Hoài, tối lại về Hội, cởi trần nằm ngay trên chiếc bàn dài chỗ văn phòng Hội, mở quạt vù vù, ngủ chẳng màn chiếu gì cả. Không ngờ, trưa họp xong, tôi xuống văn phòng hỏi, anh em bảo anh đã đi mất rồi. Anh đi khắp các phòng, sang cả nhà xuất bản Tác phẩm mới, cả báo Văn Nghệ, tạt qua mỗi chỗ một chút, chào tất, rồi đi. Sau này nghĩ lại, mới thấy hơi bất thường : sao anh lại đi chào tất cả thế ? Những lần trước có thế đâu. Nhưng lúc ấy chẳng ai để ý. Cũng thường thôi, chẳng có gì lạ. Sáng hôm sau, chúng tôi đang họp Thường vụ Ban chấp hành, bỗng nhiên được điện. Vắn tắt có mấy chữ “ Ông Nguyên Hồng mất. Lên ngay. Ký tên : Bà Nguyên Hồng ”. Tôi vội lấy xe đi ngay lên Nhã Nam. Cùng với Huy Hiền, con gái anh Nguyễn Huy Tưởng, bấy giờ là cán bộ văn phòng Hội. Tôi vẫn hi vọng anh ốm nặng đột ngột, chị Nguyên Hồng đánh điện thế để chúng tôi lên gấp. Nếu vậy sẽ dùng xe này chở anh về bệnh viện Hà Nội, mong còn kịp. Lên đến nơi, hóa ra anh đã mất thật. Anh nằm đó, trên chiếc giường mộc, giữa căn nhà xơ xác, thanh thản, yên tĩnh như một người ngủ say, chòm râu lốm đốm bạc, nước da vẫn còn hồng hào. Chị Nguyên Hồng kể : sáng nay anh ra ngổi đắp lại cái vách đất nhà bếp bị chuột rúc, đang làm thì kêu mệt, chắc là bị trúng gió. Anh bảo chị trải chiếc chiếu, nằm ngay gốc khế trước sân, định nghỉ một lát rồi lại dậy làm tiếp. Nhưng càng lúc càng thấy khó thở. Chị dìu anh vào nhà, vừa kịp nằm xuống giường thì anh đi luôn. Lúc ấy chỉ có mỗi chị Nguyên Hồng. Người đi đánh điện cho chúng tôi chính là bà cụ hàng xóm sau nhà anh. Tôi ra bưu điện Nhã Nam đánh điện gấp về Hà Nội, rồi quay lại bàn với gia đình việc tổ chức tang lễ. 16 Đến chiều tối, anh em các nơi đã kéo lên rất đông. Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, Hội Nhà văn, Nhà xuất bản Văn học, Tác phẩm mới, báo Văn Nghệ, Uỷ ban tỉnh, huyện, Hội văn nghệ Hà Bắc… Cả Hải Phòng cũng lên. Hội Nhà văn là cơ quan chủ quản chủ trì lễ tang. Tôi phải viết ngay bản điếu văn. Nhưng ở Nhã Nam lúc nào cũng đông đúc, ồn ào, bận rộn quá, e ngồi viết không yên. Tôi lấy xe, đi thẳng về Bắc Giang, mượn một phòng vắng ở cơ quan Hội văn nghệ tỉnh, ngồi viết suốt đêm. Chẳng có tư liệu gì trong tay, tôi viết theo trí nhớ và lòng yêu mến của tôi đối với anh. Bấy giờ Hà Bắc đã in tập I tiểu thuyết Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng. Bản thảo tập II đang dở dang. Tôi viết rằng anh không phải người quê gốc Nhã Nam – Yên Thế. Anh vốn người Hải Phòng. Vậy mà hàng chục năm nay, anh bỏ Hà Nội, cũng không về Hải Phòng, mang cả gia đình vợ con lên định cư ở Nhã Nam – Yên Thế là để quyết cắm sâu vào mảnh đất lịch sử Hoàng Hoa Thám này mà viết quyển tiểu thuyết lớn của đời anh. Một nhà văn quyết sống và làm việc như thế, đẹp biết bao !… Mờ sáng, viết xong, lại hộc tốc chạy lên Nhã Nam. Vừa kịp đọc điếu văn trong lễ tang. Lễ tang anh Nguyên Hồng là lễ tang nhà quê, có cờ phướn đi trước, có phường bát âm ò í e, áo quan đặt trên chiêc xe tang thô sơ bốn bánh xe đạp, người kéo người đẩy, cả làng xóm và bạn bè rồng rắn kéo qua cánh đồng Tân Yên, ra an táng tại nghĩa trang chung của xã… Một tuần sau, tại Hà Nội cũng tổ chức lễ tưởng niệm. Tôi đọc lại bài điếu văn hôm nọ. Không khí thương tiếc bùi ngùi. Lúc ra về, Tô Hoài kéo tôi cùng đi, bảo : – Điếu văn cậu viết được, nhưng có một điểm sai toét. Cậu bảo thằng cha Nguyên Hồng bỏ về cắm sâu đất Yên Thế là để viết Hoàng Hoa Thám. Nghe cảm động đấy, nhưng đếch phải. Nguyên do thế này kia… Thì ra – chuyện này, chắc chắn Tô Hoài biết rõ hơn tôi nhiều – sau vụ đấu tranh Nhân Văn Giai Phẩm, cả Hội Nhà văn, nhất là báo Văn (tức là Văn Nghệ bây giờ) lại bị kiểm điểm một trận ra trò, từ trên xuống dưới, chẳng thiếu mặt anh nào, gọi là vụ “ Hậu Nhân Văn ”. Anh nào cũng ít nhiều bị dính. – Cậu có biết thằng nào nhận khuyết điểm nhanh nhất, thành khẩn, sâu sắc nhất không ? Đố đấy ! Tôi chịu. Tô Hoài cười : – Nguyễn Xuân Sanh ! Tôi phục Tô Hoài. Đúng quá! Tất cả các vị khác cọ quậy đôi chút, rồi cũng nhận hết, tất nhiên nhiều vị nhận qua quýt cho xong. Nhận rồi, phải đi thực tế, cải tạo tư tưởng. Đến như Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Văn Cao… cũng phải kéo lên làm lại tư tưởng mãi tận nông trường Mộc Châu. Chính nhờ cái đận ấy mà về sau Nguyễn Tuân viết được Sông Đà, Nguyễn Huy Tưởng thì có Mười năm… 17 Riêng mỗi mình Nguyên Hồng, anh dứt khoát tuyên bố : – Tớ đếch có sai lầm khuyết điểm gì hết ! Không nhận gì hết ! Và anh vứt tất cả, quyết từ nay không dính dấp bất cứ nhiệm vụ chức tước gì với cái “ Hội nhà văn của các ông ” nữa. Anh vứt sạch mọi thứ ở Hà Nội, cả tem phiếu bao cấp là thứ sinh tử ngày ấy, về Hải Phòng cũng chả thèm, kéo toàn bộ vợ con gia đình đang nheo nhóc lên rừng Nhã Nam – Yên Thế mà ở,… cho đến chết. Ở Nhã Nam, xã Tân Yên, có một ngọn đồi, nguyên xưa là đồi hoang, toàn sim dại, lau sậy, gọi là Đồi Cháy hay Cầu Đen. Hồi chống Pháp, một bộ phận Văn nghệ Trung ương được đưa về đóng ở đấy. Phát hoang, làm nhà, sinh sống và viết. Có cụ Ngô Tất Tố, họa sĩ Tạ Thúc Bình, Kim Lân, Nguyên Hồng… Chính họ là những vị tiên hiền đầu tiên lập ra cái ấp này, sau dân mới dần dần kéo lên ở ngày càng đông, thành làng, gọi là ấp Cầu Đen hay ấp Đồi Cháy. Cụ Tố mất ở đấy, thời bắt đầu cải cách ruộng đất. Hòa bình, các gia đình văn nghệ sĩ lần lượt trở về Hà Nội. Nguyên Hồng, sau Nhân văn Giai phẩm tuyên bố “ Tớ đếch sai lầm khuyết điểm gì hết ! ” và anh quyết trở lại cái ấp kháng chiến ngày xưa của anh. Xa xôi, hoang vắng, sống với dân quê, hoàn toàn trở thành một dân quê thực thụ, xa lánh hết mọi cuộc đấu tranh linh tinh, vô nghĩa trong cái gọi là làng văn. Nối anh với thế giới bên ngoài chỉ còn cái xe đạp cọc cạch, cọc cạch đạp từ Nhã Nam về Hà Nội, cọc cạch đạp từ Hải Phòng ra Quảng Ninh. Anh đi giúp anh em trẻ viết, bày vẽ, đọc của anh em mới tập tò vào nghề, chấm bài… và uống rượu với anh em. Đêm tôi ngồi viết điếu văn trong văn phòng mượn tạm của Hội văn nghệ Hà Bắc, thấy có một cái xe đạp rất tàng dựng bên tường : chiếc xe nổi tiếng của Nguyên Hồng. Chuyến ấy anh gửi xe đạp tại Hội Hà Bắc, đi xe đò về Nhã Nam. Chắc anh đã cảm thấy trong người có gì hơi khác thường… Nguyên Hồng là vậy.
(còn nữa)

27Trong hội nghịBan chấp hành tháng 9-1988, Nguyễn Đình Thi yêu cầu Ban chấp hành biểu quyết Ban chấp hành nhất trí tán thành nội dung Tờtrình đã gửi lên Ban bí thư từtháng 6-1988.Anh Nguyễn Văn Bổng không chịu. Anh bảo:–Tôi có đồng ý cái tờtrình ấy đâu mà biểu quyết nhất trí!Bàn cãi lung tung một lúc, Nguyễn Đình Thi lại nảy ra sáng kiến:–Vậy đềnghịhội nghịbiểu quyết tán thành rằng Ban thư ký có quyền gửi một tờtrình lên Ban bí thư Trung ương.Ơ, tôi ngạc nhiên. Gửi một tờtrình thì ai mà chẳng có quyền. Tôi cũng giơ tay nè. Quay lại, thấy Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi im, nhất định không chịu giơ tay. Điềm nói:–Tôi cũng là uỷviên Ban thư ký. Nếu là tờtrình của Ban thư ký thì chỉcần Tổng thưký hoặc một phó thay mặt Tổng thư ký ký. Đằng này có ba người ký. Vậy là thếnào? Vậy đấy không phải là một tờtrình của Ban thư ký. Đấy là một hành động có tính chất bè phái của ba người ấy.Tôi phục lăn Nguyễn Khoa Điềm. Anh là người làm chính trịthật. Giỏi thế. Tôi vẫn chỉlà cái anh nghệsĩ tùy tiện, lang thang.Nguyễn Minh Châu, lúc này đã ốm nặng lắm, bảo tôi:–Có cái tờtrình đó là đểđi đến diệt tờbáo đấy. Cậu chuẩn bịtinh thần đi là vừa. Nhưng cứphải giữvững cho đến cùng, cho đến phút chót. Sốcậu khổđấy.Châu nói đến cái sốkhổcủa tôi. Anh không hềnói đến cáisốcủa anh. Những ngày ấy, căn bệnh hiểm nghèo đã phá vỡgần hết hồng huyết cầu của anh.Cũng vềchuyện cái tờtrình đó, đâu vào khoảng tháng 10-1988, một hôm ngồi với Nguyễn Khải ở43 Đồng Khởi Sài Gòn, nói chuyện gần suốt buổi, Khải bảo tôi:–Nhiều suy nghĩ của Ngọc, mình tán thành cả, Ngọc cũng biết rồi. Nhưng việc ông đểcho tờbáo đi theo con đường ấy thì mình rất lo. Mình lo có những người, những lực lượng muốn dùng tờbáo, dùng cảcái Hội của ta, cho những mục đích chính trịriêng của họ. Rất nguy hiểm.Tôi nói:–Thôi được, những suy nghĩ, những mối lo của từng người trong chúng ta có thểkhác nhau. Nhưng trong quan hệbạn bè và quan hệcùng làm việc với nhau, có một cái ranh giới không thểvượt qua được, nếu đã cùng tin nhau, cùng làmviệc với nhau vì một ý hướng chung. Ông ký tên dưới cái tờtrình nọlà ông đã vượt qua cái ranh giới ấy rồi đấy. Như vậy là không được.Khải không nói gì nữa.

Nữ lễ tân cùng chồng sắp cưới livestream trần tình sau vụ clip 4 phút ở cầu thang bị phát tán chóng mặt trên MXH
Sunday July 21, 2019

Sau khi đoạn clip nhạy cảm ở “cầu thang” bị lan truyền trên mạng xã hội, cặp đôi – người được cho là nhân vật chính – đã lên tiếng trần tình, cho biết đoạn clip là do bản thân tự quay làm kỉ niệm nhưng không may lộ ra Những ngày gần đây, thông […]

The post Nữ lễ tân cùng chồng sắp cưới livestream trần tình sau vụ clip 4 phút ở cầu thang bị phát tán chóng mặt trên MXH appeared first on Bong88 Club.

28Gần hai tháng sau, khi ởHà Nội người ta đưa tôi đi khỏi báo Văn nghệ, đột ngột Nguyễn Khải từSài Gòn gửi ra một bức điện: “Tôi không đồng ý thay tổng biên tập báo Văn nghệ”.Tất nhiên cái bức điện của vịphó Tổng thư ký Hội ấy có làm cho một sốngười ởHà Nội khó chịu, nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Có lẽnó chỉcó một chút tác dụng nào đó đối với chính Khải thôi.Tôi hiểu Khải, người bạn rất lâu năm của tôi, từngày “Ơ, cái thằng này nó biết đọc tiếng Tây chúng mày ơi!”9ii.Tôi hiểu bi kịch của Khải. Có lẽtrong cái cuộc vừa qua, anh là người buồn và cô đơn nhất.Anh biết tất cảnhưng vừa biết vừa thường làm ngược lại cái biết rất sắc sảo của anh. Anh cô đơn với chung quanh nhưng chắc còn gay go hơn, buồn hơn, cô đơn với chính mình.Có thời gian Nguyễn Khải hiểu lầm anh Trần Độ, nghi rằng anh Độmuốn loại Khải ra trong phương án dựkiến của anh. Nhưng tôi thì tôi biết rõ. Chính vào lúc quan hệgiữa Khải và tôi đang căng, lại thêm sựxúc xiểm của một sốkẻtrung gian, anh Trần Độnói với tôi:“Đừng nghĩ sai vềKhải. Hãy đọc những cái Khải viết. Cậu ấy có thểnói, làm thếnày thếkhác, nhưng trong cái viết, Khải vẫn rất rõ ràng, mạnh mẽ. Đó mới là cái chính…”.Gần đây, một hôm ởSài Gòn, Khải hỏi tôi:–Nghe nói sức khoẻanh Độyếu đi nhiều phải không?Tôi nghe trong giọng anh một mối lo chân thành, một tình cảm quý trọng thật sự.Con người nhưvậy đó. Chẳng đơn giản chút nào.Chính Hữu chắc chắn khác hẳn Nguyễn Khải. Khải chưa bao giờ, không bao giờlà công chức. Anh vừa sống trong một guồng máy chính quyền, quân đội, nhẫn nhục chịu sựchi phối của guồng máy nặng nềấy, trông anh lúc nào cũng buồn buồn, có chút gì đó như chán nản, lại vừa sống ngoài rìa bộmáy, thông minh và sắc sảo nhìn cái bộmáy ấy bằng đôi mắt mỉa mai, một sựmỉa mai pha lẫn bất lực. Anh chưa bao giờlà mộtnhà văn-chiến sĩ.không làm được và cũng không muốn nhận cái chức hiệu hùng hồn ấy; nhưng lại cũng không đủsức làm một người tựdo thật sự. Có lẽchẳng phải ngẫu nhiên mà một quyển tiểu thuyết gần đây của anh mang cái tên vừa to tát vừa buồn: Một cõi nhân gian bé tí.Nguyễn Minh Châu cũng có một quyển tiểu thuyết chưa kịp viết, định lấy tên là Cõi người. Châu muốn đắm mình, như một sinh linh bé nhỏ, trong cái đắm chìm khổđau kiếp người. Khải cũng nhìn thấy và muốn nói vềcái cõiấy, nhưng anh không đủsức, không dám thảhết mình vào đó như Châu. Anh vừa mỉa mai coi khinhcái guồng máy, vừa vẫn cứbám vào nó mà sống, đôi lúc còn tham gia sựvận hành của nó nữa.Khối mâu thuẫn ởKhải dường như cũng là khối mâu thuẫn của không ít trí thức ởta bây giờ.Chính Hữu thì không được đến vậy. Anh bịcông chức hóa sâu hơn, liên tục hơn, dài hơn và đậm hơn nhiều. Tư thếcông chức tận tụyvà nghiêm túc giết đi gần hết cái phần nhà thơ từng có thểtài hoa, con người vốn từng lãngmạn trong anh. Anh cưỡng lại ngày một yếu

29ớt, và cuối cùng tựmình trởthành một bộphận của cái thếlực bắtcon người phải quy phục mà chính anh từng là nạn nhân của nó.Đấy cũng là một thứbi kịch, càng đáng buồn hơn.ỞChính Hữu tôi thường thấy cùng một lúc hai thái độsống chừng nhưđối nghịch: anh không thíchnhiễu sự, có phần an phận nữa là khác, nhưng lắmkhi lại cũng rất dữdằn, quyết liệt gây sự. Tôi tin rằng trong con người ấy cũng từng có sựgiằng xé, nhưng sựgiằng xé ngày càng yếu đi, mòn mỏi, đến gần như chẳng còn gì.Những con người như vậy sẽxa dần đời sống sinh động thực –không phải chỉđời sống xã hội hỗn độn bên ngoài. Họxa dần, mất liên lạc dần và đến mất hẳn, tắt hẳn mọi liên lạc với đời sống phức tạp và hạnh phúc, khát vọng và quằn quại bên trong con người.Lời nói độc địa và hỗn xược của Chính Hữu coi công chúng thời ấy của báo Văn nghệchỉlà đám người u mê xúm quanh “cô gái cởi truồng đứnggiữa ngã tưđường”còn tờbáo thì chính là cô gái ô uếnọ, tôi tin rằng anh hoàn toàn nghĩ thật, nói thật. Anh không hềlỡlời đâu. Tôi dận gót giầy đùng đùng xuống mặt sàn gỗcăn phòng gác hai 65 Nguyễn Du và hung hăng mắng lại anh, là một hành động nóng giận tức thời của tôi lúc ấy. Nhưng rồi sau đó tôi buồn nhiều hơn giận.Không, anh không hiểu nổi cuộc chiến đấu của chúng tôi, của tôi. Nói thếnày thì nghe kiêu căng quá, nhưng thật vậy: nó ởngoài tầm với của anh. Biết làm sao?Trong hội nghịBan chấp hành Hội Nhà văn tháng 9-1988 họp nhờởhội trường nhà khách Trung ương Đoàn 15 HồXuân Hương, tuyệt đại đa sốBan chấp hành kết tội kịch liệt báo Văn nghệ, thông qua một cái nghịquyết chấn chỉnh tờbáo “vềmặt tổchức”, tức là sẽcách chức người phụtrách báo, anh Nông Quốc Chấn là người lên án báo dữdội nhất. Đến giờgiải lao, ra hành lang, anh hỏi tôi:–Tôi nói thế, anh có giận không?Tôi cười:–Chẳng chuyện gì mà giận. Chỉcó điều anh lạchậu quá, theo tôi anh chậm mất khoảng mười năm đấy.Vềsau tôi kểlại với Nguyễn Khoa Điềm. Điềm bảo:–Anh nói thếlà còn ít quá đấy!Quảthực cuộc đi tới gian nan và kịch liệt của xã hội, mà văn học như một mũi thăm dò tiên phong, đã chia rẽchúng tôiquá xa. Có người bảo là bè phái. Tôi không thấy như vậy. Tôi thấy đấy là một sựchia rẽsâu sắc. Cần gọi cho đúng cái tên của nó.*

Tâm sự của thanh niên vừa lấy vợ, cứ khi em đến tháng là những chuỗi ngày đau thương: Ai bảo lấy vợ là sướng
Tuesday July 16, 2019

Sau khi lấy vợ thì đàn ông thường có rất nhiều nỗi khổ, có khi còn không dám than thở với ai. Nói với bạn bè đồng nghiệp thì sợ bị chê cười. Nhưng khi nói chuyện với em thì xác định là ngủ đất cả tháng luôn, sợ lắm Bài viết của anh chàng […]

The post Tâm sự của thanh niên vừa lấy vợ, cứ khi em đến tháng là những chuỗi ngày đau thương: Ai bảo lấy vợ là sướng appeared first on Bong88 Club.

30Trước Đại hội Nhà văn lần thứIIIvài tháng, anh Đào Duy Tùng, là ủy viên BộChính trị, đứng đầu phụtrách công tác tư tưởng, có mời tôi đến chơi. Chắc không phải “đến chơi”,bởi đến chơi thì mời vềnhà riêng. Anh mời tôi đến chỗlàm việc của Ban bí thư Trung ương Đảng, đường Nguyễn Cảnh Chân. Vậy tức là “làm việc”.Tôi biết sắp Đại hội Nhà văn rồi, các anh có lo lắng vềtôi. Việc tôi đi khỏi báo Văn nghệvậy mà ầm ĩ khá rộng và lâu, đến gần Đại hội lại càng rộlên, căng hơn. Chắc chắn trong Đại hội –mà lần này là đại hội toàn thể–nhiều người sẽđặt lại vấn đềtờbáo. Thậm chí có nguy cơ một sốkhông ít anh chịem sẽli khai khỏi Hội, nếu việc báo Văn nghệkhông được giải quyết thỏađáng. Và việc báo Văn nghệthì trực tiếp liên quan đến tôi. Tôi bỗng nhiên trởthành một thứđiểm trung tâm chúý của hai phía. Nhiều anh chịem muốn dựng tôi thành một thứ“ngọn cờđấu tranh”(!). Cấp trên thì lo không biết thái độcủa tôi trong Đại hội sẽnhưthếnào?Anh Đào Duy Tùng mời tôi đến hẳn là vì chuyện này thôi.Kỳthực sau vụbáo Văn nghệtôi muốn đứng ra ngoài cuộc. Có buồn, bực bội ít lâu, nhưng rồi tâm trạng tôi lại thanh thản. Bởi vì tôi tin rằng tôi đã làm xong một công việc cần thiết và đúng lúc, do tình thếgiao vào tay tôi một năm rưỡi ấy. Công việc đã làm ởbáo có hay có dở, có đúng có sai, vụng vềvà lầm lẫn cũng có, nhưng tôi cho rằng vềcơ bản tờbáo Văn nghệđã làmtròn vai trò tất yếu của nó trong một bước đi tất yếu của xã hội và của văn học. Bước ấy đã xong, văn học sẽtựnó đi tiếp bước khác, có thểcòn phức tạp, gian nan, mệt mềhơn, nhưng không gì cản lại được nữa.Tôi tin. Hồi ấy, trên một tờbáo, tôi có nói:“Tôi là người lạc quan”.Phần riêng tôi, tôi chỉcòn một lo lắng và đau khổ, lớn hơn nhiều: tôi vẫn chưa trởlại viết được!Anh Lê Ngọc TrảtừSài Gòn viết thư ra cho tôi:“Ởtrong này anh em vẫn nhắc đến anh và biết tin vui buồn vềanh. Anh em thương anh nhiều. Riêng tôi, tôi nghĩđợt này nếu anh có thì giờtập trung viết một cái gì đó, chắc sẽrất hay. Văn học là nỗi đau mà. Người đang đau như anh có nhiều điều đểnói hay lắm. Huống chi ởanh vốn sẵn có chất trữtình rất đậm và sâu của người vùng Trung Bộ. Chất trữtình ấy không nên thơ bay bổng bằng như chất thơ xứBắc, nhưng nó hấp dẫn và cuốn hút lắm…”Tôi gặp Lê Ngọc Trà lần đầu tiên là ởMaskova, sau khi đã đăng bài Văn học và chính trịcủa anh ít lâu.Lê Ngọc Trà đang bảo vệluận án tiến sĩ. Đêm Maskova rét không thểtưởng, đâu đến âm 30 hay 35 độ. Chúng tôi dìu nhau đi lang thang trên các hè phốvắng ngắt và băng đóng trơn như mỡ. Chúng tôi nói với nhau vềnhững triển vọng và khát khảo của văn học ta. Tôi đềnghịLê Ngọc Trà sau bài Văn học vàchính trịrồi, bây giờchuyển viết tiếp cho chúng tôi vấn đềVăn học và hiệnthực. Trà bảo:–Anh suy nghĩ vậy là đúng rồi. Tôi cũng đang nghĩ vấn đềấy. Phải lần lượt cốgắng giải quyết một sốvấn đềcơ bản anh ạ.Trà hỏi:–Tình hình ởnhà, sau nghịquyết 05 của Bộchính trị, như thếnào?Tôi nói:

31–Cái nghịquyết ấy thật hay, nhưng có phần hơi sớm hơn tình hình chung. Cơ sởxã hội cho một nghịquyết như vậy ởta chưa có đủ. Cho nên tôi chắc sắp tớinó (cái nghịquyết ấy) sẽrất vất vả, thậm chí có thểbịđẩy lùi. Nhưng dầu saocũng đã cắm được một cái mốc mới. Quan trọng lắm…Hơn tháng sau, trởvềHà Nội, tôi nhận được bài Văn học và hiện thựccủa Lê Ngọc Trà. Đó là một trong những bài lý luận văn học cơ bản nhất trên mặt báo, suốt thời gian tôi làm Văn nghệ…. Lê Ngọc Trà bảo là tôi “đang đau”. Tôi rất hiểu anh: anh hoàn toàn không muốn nói là tôi đau vì tôimất chức,cũng không phải là nỗi đau của một phen trảgiá. Cứcho là nỗi đau đi thì đấy là do tôi hiểu đời và hiểu người hơn, hay chính xác hơn, tôi hiểu chính tôi hơn. Cuộc vật lộn vừa qua rốt cuộc, lạthế, lại đưa tôi đến chỗđối diện với chính mình. Với cảcuộc đời mình.Tôi hiểu ra rằng đất nước, dân tộc này đang đối diện với chính mình. Văn học đang đối diện với chính mình. Từng người cũng vậy. Tôi cũng vậy.Đối diện, và cốtựtìm hiểu chính mình, cuộc đời mình, toàn bộhành trình và hành trang của chính mình. Một sựcốgắng vào loại khó khăn nhất, ráo riết và đau đớn nhất. Đòi hỏi dũng cảm lớn nhất.Tôi lại muốn đi lang thang. Hình như trong khi đi lang thang, dễsuy nghĩ hơn…Cho nên, thật tình tôi cho rằng sựlo lắng của các anh, của anh Tùng vềcái “thái độ”của tôi ởĐại hội nhà văn sắp tới là lạc lõng và nhỏnhặt quá. Tôi chẳng quan tâm gì lắm đến chuyện ấy. Có quan trọng gì lắm đâu cái Đại hội, cảcái Hội ấy nữa, mà các anh lo đến sốt vó thế!…Quảnhiên anh Tùng hỏi tôi dựkiến Đại hội sẽthếnào? Theo tôi nên thếnào?Tôi nói thẳng với anh:–Tôi chẳng có ý kiến gì.Bởi vì, theo tôi, Đại hội lẫn cảcái Hội nữa chẳng quyết định gì đối với văn học đâu. Có một cái Hội nhà văntốt hay không tốt thì vềcơ bản cũng chẳng làm sao đối với văn học cả. Các anh quá lo, là lầm. Khó nhất đối với nhà văn là việc anh ta ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với cái “pháp trường trắng”của anh, như Nguyễn Tuân nói. Đối mặt với nó, chỉđộc có mỗi mình anh. Chẳng ai, chẳng thếlực, chẳng hội hè nào giúp được anh chút gì trong cuộc đối mặt cô đơn và khủng khiếp đó. Bởi đó là cuộc đối mặt của anh với chính anh. Bản chất của công việc sáng tác là vậy.Chỉmong đừng có ai làm phiền nhiễu thêm họkhi họngồi trước trang giấy, trước chính họ, trong cuộc đối chất đau đớn, khắc nghiệt đó. Hội hè tuyệt nhiên chẳng hỗtrợgì cho họlúc ấy đâu. Hỗtrợcho họlúc ấy, anh ạ–tôi nói –xin anh đừng ngạc nhiên,có khi chẳng hạn lại là sựcó mặt của một người đàn bà mà họyêu say đắm, vô lý và tuyệt vọng… Tôi xin lỗi anh, không biết anh có hiểu không?Thếđấy, vậy việc gì các anh phải quá lo lắng thế. Tôi e các anh nhầm. Vấn đềlà ởchỗkhác kia.–Ởchỗnào? –Anh Tùng hỏi.–Ởchính người sáng tác.–…?

32–Anh đã mời tôi đến, anh đã hỏi, thôi hôm nay tôi sẽxin nói. Tôi sẽnói vềmột vấn đềcó thểanh cho là lạc đềnhưng tôi lại nghĩ là quan trọng hơn nhiều.Tôi sẽnói vềgiới trí thức, giới “sĩ phu”ởnước ta, mà cũng chỉxin nói riêng trong văn nghệ. Tôi muốn đềnghịĐảng nhìn lại tận gốc vấn đềnày, bởi đây mới là vấn đềgốc.Hãy lấy ví dụnhư nước Nga, mà ta từng rấtgần. Trước Cách mạng tháng 10, nước Nga, dầu là nước Nga phong kiến, đã là một quốc gia độc lập lâu đời.Họcó một giới sĩ phu đàng hoàng, cao lớn, độc lập. Những nhân cách đại thụ, đại biểu cho cảdân tộc, cho cảnền văn minh không chỉcủa nước Nga. Những Tolstoi và Dostoievski, những Nekrassov và Tourgueniev, những Ghersen và Dobrolioubov, những Leskov và Garchin. Chính vì có truyền thống lớn đó, mà sau Cách mạng, cảtrong những năm đen tối nhất dưới chếđộStalin, họvẫn còn những tài năng và nhân cách sừng sững, có thểbịgiết chết chứkhông thểbịbẻgục: những Bounin và Pilniak, những Mandelstam và Tvardovski, những Soljenitsyn và Pasternak, những Tsetaieva và Akhmatova, những Boulgakov và Eisenstein… Họvẫn còn một nền văn học và nghệthuật lớn…Giới trí thức văn học nghệthuật ởta trước Cách mạng tháng Tám có một chỗmạnh và rất quan trọng: lòng yêu nước nồng nàn.Và cuộc cách mạng của chúng ta suốt mấy chục năm qua chủyếu là cuộc cách mạng cứu nước, giải phóng dân tộc. Hãy nhớlại xem: hầu hết lớp văn nghệsĩ ta thường gọi là tiền chiến, những người tên tuổi và tài năng nhất đều đi theo cách mạng và kháng chiến. Chúng ta chỉmất đôi ba người. Chẳng hạn trong hội hoạ, người tài năng nhất, Nguyễn Gia Trí, không đi với kháng chiến. Nhưng ông cũng không theo giặc. Ông vào Sài Gòn, cặm cụi vẽ, rồi sang Paris, vẫn cặm cụi vẽ. Trong âm nhạc, có lẽchúng ta mất một tài năng đáng tiếc: Phạm Duy… Nhưng cũng chỉđôi ba người, đếm được trên đầu ngón tay, vậy thôi. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Tô Hoài, ChếLan Viên, Nam Cao, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Văn Cao… đều đi với Cách mạng, cho đến tận ngày nay. Thật quí, không dễgì được thế.Nhưng đồng thời, tôi mạnh dạn nghĩvà hôm nay nói rõ với anh, vềcơ bản lớp trí thức văn nghệtiền chiến ởta cũng chỉlà lớp trí thức nhỏbé của một nước thuộc địa nhỏbé. Một trong những nét tính cách bẩm sinh ởhọlà sựươn hèn. Một lớp sĩ phu ươn hèn. Những Phan Bội Châu, những Phan Châu Trinh đã hết.Trong giới chúng tôi có một người cầm bút lão thành vẫn được tiếng là người cương trực nhất. Tôi kính trọng ông. Đám tang ông, tôi đã làm rất to trên tờbáo của tôi. Nhưng tôi cũng biết cái cương trực của ông, nói cho cùng, cũng chỉlà cương trực… vặt. Người ta dại dột đi sơn cái Tháp Rùa, ông chửi vung lên. Xây nhà cao tầng nhiều quanh HồGươm, ông cũng lại chửi om lên, bảo là biến cái hồđẹp thếthành cái giếng mất… Vậy đó thôi. Chứnhững chuyện đại sựquốc gia, đã bao giờthấy ông dám có tiếng nói lớn, độc lập. Boulgakov có thểngửa tay xin Stalin một chân kéo màn rạp hátđểkiếm sống, nhưng nhà văn cổđiển của thời đại văn học xô-viết ấy, trong quan điểm và sáng tác của mình, đến chết không hềchịu lùi một li. Pasternak khi bịcảHội nhà văn Liên Xô la ó đuổi ra khỏi Hội vì cái giải Nobel trao cho ông, đã viết mấy chữgửi Hội nhà văn:“Tôi hiểu hoàn cảnh buộc các bạn phải làm việc này, tôi tha thứcho tất cảcác bạn”.Còn ông già tài hoa và cương trực của chúng tôi, ông biết ông vừa bịchếđộnghi ngờ, khinh rẻ, lại vừa được chếđộvì nể, ông bèn “làm nũng”với chếđộ, thỉnh thoảng lại làm mình làm mẩy đôi chút. Thếthôi. Ít lâu trước khi mất, ông tâm sựbuồn rầu và chua chát: “Mình còn sống được đến ngay nay là vì mình biết… sợ”.

33Trong mỗi vị“sĩ phu”ấy của chúng ta đều có một viên công chức nhỏbé của Tchekhov…Cái chất viên chức nhỏbé Tchekhov bẩm sinh đó, từsau Cách mạng lại bịmột loạt cuộc vùi dập thô bạo liên tục: cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, cải tạo này rồi đến cải tạo khác,tư tưởng văn nghệDiên An, các vụán văn nghệliên tiếp… càng làm cho nhỏbé thêm đi, co lại, gập xuống…Chúng ta không có một lớp trí thức tiền chiến lớn –đó là điều cần nhìn thẳng và suy nghĩ.Đến thếhệchúng tôi, dầu muốn dầu không, chúng tôi cũng kếthừa họ. Cảchất ươn hèn lẫn sựkhôn ngoan vặt của họ. Chúng tôi vừa coi thường họvì chúng tôi biết nhân cách của họcũng chỉlằng nhằng thếthôi, lại vừahọc bài học đau đời của họ: phải biết sợđểmà sống.Sựkếthừa ấy còn kéo dài đến cảthếhệsau chúng tôi, trong tình thếbây giờlại còn pha thêmnhững tạp chất cơ hội và lưu manh; tất nhiên không phải ởtất cả, nhưng đại thểlà như vậy.Các anh thường hỏi: tại sao chúng ta chưa có tác phẩm lớn? Tôi xin trảlời: vì chúng ta chưa có những nhân cách lớn.Đổi mới trong xã hội và trong văn nghệmấy năm qua đã đem lại những gì? Có tác phẩm khá hơn, có đời sống văn học nghệthuật phong phú sinh động hơn. Nhưng nói thật cũng chưa có gì ghê gớm đặc sắc lắm đâu. Và cũng không phải là cái quan trọng nhất.Thành quảquan trọng nhất vừa qua, theo tôi, là sựbắt đầu nhận ra, bắt đầu ý thức và khôi phục cái vịthế, cái tư cách đàng hoàng, độc lập, tựdo, trách nhiệmcủa người cầm bút, ởtrong chính người cầm bút, trước đất nước, nhân dân và Đảng của mình.Đó là sựgiải phóng bên trong của người nghệsĩ, tựdo bên trong thật sựcủa người cầm bút. Theo tôi, cái ấy đã bắt đầu, đã bắt đầu có. Và sựthức tỉnh đó là quyết định, tức là không thểđảo ngược được, dầu còn rất nhiều đau đớn và trảgiá.Nếu phải nói một điều gì đó vềĐại hội nhà văn sắp tới thì tôi xin nói: tôi tin Đại hội sẽdiễn ra theo hướng đó. Và như vậy là đáng mừng, cho Đảng, cho đất nước, cho văn học.Nhưng hình như các anh lại lo lắng vềchính cái điều tôi cho là đáng mừng đó, các anh vội tìm cách ngăn lại. Có lẽcũng ít chếđộnào nâng niu chăm sóc bao cấp cho văn nghệsĩ bằng chếđộta. Nhưng đó là kiểu nuôi nấng o bếmột đám con hát, một đám cung văn.Chúng tôi không cần cái ấy, chúng tôi chiến đấu cho một tư thếđộc lập, tựdo đàng hoàng và đầy trách nhiệm của nhà văn trước đất nước…Anh Tùng lắng nghe, không cắt lời tôi. Cuối cùng anh bảo:–Vấn đềanh nêu ra là đáng suy nghĩ, có chỗtôi đòng ý, cũng có chỗchưa đồng ý. Lần khác ta sẽtrao đổi tiếp.Trước khi ra về, tôi nói:

34–Tôi không còn làm báo Văn nghệnữa. Nếu còn làm thì dựđịnh của tôi là sau mảng đềtài nông thôn, tôi sẽtriển khai tiếp vấn đềquan trọng hơn là vấn đềtrí thức…Không thấy anh nói gì.Cũng không thấy anh mời tôi đến chơi nữa.*Những điều tôi nói với anh Đào Duy Tùng hôm đó thật sựlà những điều tâm huyết của tôi suốt thời gian tôi “nắm”tờbáo Văn nghệ. Khi không ởbáo nữa,đó vẫn là tâm huyết của tôi trong mọi việc tôi còn có thểlàm chút gì đó cho văn học. Và cũng là, trước hết, tựlàm cho chính tôi. Tựgiải phóng mình.Trong mỗi chúng ta, đều có một kẻnô lệ. Lạthay cái chếđộcủa chúng ta, cái chếđộkhát khao hơn bất cứthời đại nào trước giải phóng cho đất nước, cho con người… cuối cùng lại đi đến vùi dập, bóp nghẹt con người. Lại làm đậm thêm cái chất nô lệtrong con người.Tôi biết, tôn tin rằng những người cầm bút, đặc biệt những cây bút trẻ, đã ý thức ngày càng rõ điều ấy, và quyết phá vỡra. Mỗi người một cách,ởnhững mức độkhác nhau.Nguyễn Khải rụt rè nói về“cái thời lãng mạn ấy”. Tính anh vốn thế, chẳng quyết liệt bao giờ. Nhưng tôi nhận ra, đằng sau cái rụt rè còn mong manh ấy một cái cười chua chát tựchếriễu mình. Được chừng ấy cũng đã là quý lắm rồi.Nguyễn Minh Châu lầm lì nhưng liều lĩnh, tuyên bốAi điếu cho một thời văn nghệminh hoạ. Bài đưa ra tòa soạn, nhiều anh em rất ngại, nhưng tôi cứquyết định đăng. Bởi tôi biết Nguyễn Minh Châu cốmột trận quyết rứt mình ra đểđi tới, chuyển sang một trận khác. Tôi cảm phục anh và biết tiếng nói của anh sẽgiúp thêm nghịlực cho bao nhiêu người còn chần chừ.Dương Thu Hương vừa đằm thắm –ít ai viết được vềngười mẹquê Việt chúng ta đậm sâu như chịtrong Những thiên đường mù–lại vừa đáo để, đến cảhỗn xược –cũng trong chính Những thiên đường mù.Phạm ThịHoài táo tợn muốn tháo bỏtất cảmọi ràng buộc, cho đến cảnhững khu vực có tính bản năng của con người. Cây bút nữấy chẳng chút xấu hổmuốn lột trần trụi con người ra trước chính nó. Tôi biết nhiều lúc chịhơi quá thông minh và điệu đà. Nhưng tôi ủng hộchị. Cũng là một cửa mởcho sựgiải phóng.Nguyễn Huy Thiệp thì đã hoàn toàn khác. Mọi giá trịtừng được thờcúng với anh đều trởthành trần tục hết. Anh không ngại đến cảthô lỗvà tục tĩu khi lạnh lùng phanh phui sựthật. Con dao mổấy quá sắc, quá lạnh, nhiều khi đến chối. Nhưng đểbắt đầu lại, làm lại một thếgiới người cho ra người khác, tránh sao được những cuộc phá vỡcó khi tàn bạo?Tôi đăng Thiệp không phân vân.

35Những sáng tác trên báo Văn nghệthời ấy không phải cái nào cũng là văn chương,–tôi biết. Nhiều người trách: tờbáo hạthấp văn chương. Nguyễn Đình Thi làm tạp chí Tác phẩm mớichủtrương văn chương phải sang trọng.Tôi thì lúc này tôi nghĩ khác: cuộc cày xới thì ngổn ngang. Tôi chấp nhận cái ngổn ngang ấy. Nó xới lên hơi đất hôi hổi của cuộc sống thực.Rồi đến một lúc mới có thểBước qua lời nguyềnvà Nỗi buồn chiến tranh.Không ai sang trọng được khi đang cầy vỡruộng.Lại cũng có người trách: tôi tâng bốc quá đáng lớp trẻ, làm mất lòng bao nhiêu người già.Có lẽquảcó thếthật. Tâng bốc thì không đúng.Nhưng đặt nhiều lòng tin vào họthì có. Tôi biết cuộc phá vỡnày quá quyết liệt, đểlớp người đã nặng nợnhiều với quá khứkhó có thểđủsức làm nổi.Vềsau tờbáo bịkết tội gây bè phái chia rẽlàm rối tung nội bộHội nhà văn. Tôi thì tôi muốn nói chính xác hơn: nó làm phân hóa rõ rệt lực lượng trong cuộc đi tới quằn quại dữdội này của văn học. Cái tội đó, nó xin chịu.*Tháng 12-1988, sựnứt vỡđã không còn cứu vãn được nữa. Những thếlực chống lại sựđi tới đã căm tức đến cực độ. Sựphân hóa đã quá lớn.Còn tôi thì quá nhiều sơ hởvụng vềđểcho trận địa của mình bịtiến đánh từmọi phía. Một trong những vụng vềnguy hiểm là tôi đã đểcho tờbáo nhô lên quá nhọn. Trong đội hình đi tới chung của báo chí, và có thểcủa cảxã hội lúc này đang có phần bịđẩy chững lại. Trong chiến đấu, cáikhối lồi lù lù như thếtất sẽbịgạt đi cho kỳđược.Tôi ra đi là phải.Biện pháp đã được dùng đểđẩy tôi đi có thểlà vụng về, thô bạo. Nhưng chẳng quan trọng gì cái chuyện ấy. Có thểkhéo hơn, lịch sựnhẹnhàng hơn một chút. Nhưng rồi tất cũng thếthôi.Nhiều anh chịem ấm ức bảo tôi cốkéo dài thêm. Trưa ngày hôm ấy, 2-12-1988, tôi nói:–Thôi, đủrồi!Trước cuộc họp toàn thểtòa soạn, Chính Hữu đọcquyết định “thuyên chuyển công tác”tôi. Tôi bảo:–Tôi chẳng chuyển đi đâu cả. Tôi chỉthôi công việc ởđây.Và hỏi:

27Trong hội nghịBan chấp hành tháng 9-1988, Nguyễn Đình Thi yêu cầu Ban chấp hành biểu quyết Ban chấp hành nhất trí tán thành nội dung Tờtrình đã gửi lên Ban bí thư từtháng 6-1988.Anh Nguyễn Văn Bổng không chịu. Anh bảo:–Tôi có đồng ý cái tờtrình ấy đâu mà biểu quyết nhất trí!Bàn cãi lung tung một lúc, Nguyễn Đình Thi lại nảy ra sáng kiến:–Vậy đềnghịhội nghịbiểu quyết tán thành rằng Ban thư ký có quyền gửi một tờtrình lên Ban bí thư Trung ương.Ơ, tôi ngạc nhiên. Gửi một tờtrình thì ai mà chẳng có quyền. Tôi cũng giơ tay nè. Quay lại, thấy Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi im, nhất định không chịu giơ tay. Điềm nói:–Tôi cũng là uỷviên Ban thư ký. Nếu là tờtrình của Ban thư ký thì chỉcần Tổng thưký hoặc một phó thay mặt Tổng thư ký ký. Đằng này có ba người ký. Vậy là thếnào? Vậy đấy không phải là một tờtrình của Ban thư ký. Đấy là một hành động có tính chất bè phái của ba người ấy.Tôi phục lăn Nguyễn Khoa Điềm. Anh là người làm chính trịthật. Giỏi thế. Tôi vẫn chỉlà cái anh nghệsĩ tùy tiện, lang thang.Nguyễn Minh Châu, lúc này đã ốm nặng lắm, bảo tôi:–Có cái tờtrình đó là đểđi đến diệt tờbáo đấy. Cậu chuẩn bịtinh thần đi là vừa. Nhưng cứphải giữvững cho đến cùng, cho đến phút chót. Sốcậu khổđấy.Châu nói đến cái sốkhổcủa tôi. Anh không hềnói đến cáisốcủa anh. Những ngày ấy, căn bệnh hiểm nghèo đã phá vỡgần hết hồng huyết cầu của anh.Cũng vềchuyện cái tờtrình đó, đâu vào khoảng tháng 10-1988, một hôm ngồi với Nguyễn Khải ở43 Đồng Khởi Sài Gòn, nói chuyện gần suốt buổi, Khải bảo tôi:–Nhiều suy nghĩ của Ngọc, mình tán thành cả, Ngọc cũng biết rồi. Nhưng việc ông đểcho tờbáo đi theo con đường ấy thì mình rất lo. Mình lo có những người, những lực lượng muốn dùng tờbáo, dùng cảcái Hội của ta, cho những mục đích chính trịriêng của họ. Rất nguy hiểm.Tôi nói:–Thôi được, những suy nghĩ, những mối lo của từng người trong chúng ta có thểkhác nhau. Nhưng trong quan hệbạn bè và quan hệcùng làm việc với nhau, có một cái ranh giới không thểvượt qua được, nếu đã cùng tin nhau, cùng làmviệc với nhau vì một ý hướng chung. Ông ký tên dưới cái tờtrình nọlà ông đã vượt qua cái ranh giới ấy rồi đấy. Như vậy là không được.Khải không nói gì nữa.

28Gần hai tháng sau, khi ởHà Nội người ta đưa tôi đi khỏi báo Văn nghệ, đột ngột Nguyễn Khải từSài Gòn gửi ra một bức điện: “Tôi không đồng ý thay tổng biên tập báo Văn nghệ”.Tất nhiên cái bức điện của vịphó Tổng thư ký Hội ấy có làm cho một sốngười ởHà Nội khó chịu, nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Có lẽnó chỉcó một chút tác dụng nào đó đối với chính Khải thôi.Tôi hiểu Khải, người bạn rất lâu năm của tôi, từngày “Ơ, cái thằng này nó biết đọc tiếng Tây chúng mày ơi!”9ii.Tôi hiểu bi kịch của Khải. Có lẽtrong cái cuộc vừa qua, anh là người buồn và cô đơn nhất.Anh biết tất cảnhưng vừa biết vừa thường làm ngược lại cái biết rất sắc sảo của anh. Anh cô đơn với chung quanh nhưng chắc còn gay go hơn, buồn hơn, cô đơn với chính mình.Có thời gian Nguyễn Khải hiểu lầm anh Trần Độ, nghi rằng anh Độmuốn loại Khải ra trong phương án dựkiến của anh. Nhưng tôi thì tôi biết rõ. Chính vào lúc quan hệgiữa Khải và tôi đang căng, lại thêm sựxúc xiểm của một sốkẻtrung gian, anh Trần Độnói với tôi:“Đừng nghĩ sai vềKhải. Hãy đọc những cái Khải viết. Cậu ấy có thểnói, làm thếnày thếkhác, nhưng trong cái viết, Khải vẫn rất rõ ràng, mạnh mẽ. Đó mới là cái chính…”.Gần đây, một hôm ởSài Gòn, Khải hỏi tôi:–Nghe nói sức khoẻanh Độyếu đi nhiều phải không?Tôi nghe trong giọng anh một mối lo chân thành, một tình cảm quý trọng thật sự.Con người nhưvậy đó. Chẳng đơn giản chút nào.Chính Hữu chắc chắn khác hẳn Nguyễn Khải. Khải chưa bao giờ, không bao giờlà công chức. Anh vừa sống trong một guồng máy chính quyền, quân đội, nhẫn nhục chịu sựchi phối của guồng máy nặng nềấy, trông anh lúc nào cũng buồn buồn, có chút gì đó như chán nản, lại vừa sống ngoài rìa bộmáy, thông minh và sắc sảo nhìn cái bộmáy ấy bằng đôi mắt mỉa mai, một sựmỉa mai pha lẫn bất lực. Anh chưa bao giờlà mộtnhà văn-chiến sĩ.không làm được và cũng không muốn nhận cái chức hiệu hùng hồn ấy; nhưng lại cũng không đủsức làm một người tựdo thật sự. Có lẽchẳng phải ngẫu nhiên mà một quyển tiểu thuyết gần đây của anh mang cái tên vừa to tát vừa buồn: Một cõi nhân gian bé tí.Nguyễn Minh Châu cũng có một quyển tiểu thuyết chưa kịp viết, định lấy tên là Cõi người. Châu muốn đắm mình, như một sinh linh bé nhỏ, trong cái đắm chìm khổđau kiếp người. Khải cũng nhìn thấy và muốn nói vềcái cõiấy, nhưng anh không đủsức, không dám thảhết mình vào đó như Châu. Anh vừa mỉa mai coi khinhcái guồng máy, vừa vẫn cứbám vào nó mà sống, đôi lúc còn tham gia sựvận hành của nó nữa.Khối mâu thuẫn ởKhải dường như cũng là khối mâu thuẫn của không ít trí thức ởta bây giờ.Chính Hữu thì không được đến vậy. Anh bịcông chức hóa sâu hơn, liên tục hơn, dài hơn và đậm hơn nhiều. Tư thếcông chức tận tụyvà nghiêm túc giết đi gần hết cái phần nhà thơ từng có thểtài hoa, con người vốn từng lãngmạn trong anh. Anh cưỡng lại ngày một yếu

29ớt, và cuối cùng tựmình trởthành một bộphận của cái thếlực bắtcon người phải quy phục mà chính anh từng là nạn nhân của nó.Đấy cũng là một thứbi kịch, càng đáng buồn hơn.ỞChính Hữu tôi thường thấy cùng một lúc hai thái độsống chừng nhưđối nghịch: anh không thíchnhiễu sự, có phần an phận nữa là khác, nhưng lắmkhi lại cũng rất dữdằn, quyết liệt gây sự. Tôi tin rằng trong con người ấy cũng từng có sựgiằng xé, nhưng sựgiằng xé ngày càng yếu đi, mòn mỏi, đến gần như chẳng còn gì.Những con người như vậy sẽxa dần đời sống sinh động thực –không phải chỉđời sống xã hội hỗn độn bên ngoài. Họxa dần, mất liên lạc dần và đến mất hẳn, tắt hẳn mọi liên lạc với đời sống phức tạp và hạnh phúc, khát vọng và quằn quại bên trong con người.Lời nói độc địa và hỗn xược của Chính Hữu coi công chúng thời ấy của báo Văn nghệchỉlà đám người u mê xúm quanh “cô gái cởi truồng đứnggiữa ngã tưđường”còn tờbáo thì chính là cô gái ô uếnọ, tôi tin rằng anh hoàn toàn nghĩ thật, nói thật. Anh không hềlỡlời đâu. Tôi dận gót giầy đùng đùng xuống mặt sàn gỗcăn phòng gác hai 65 Nguyễn Du và hung hăng mắng lại anh, là một hành động nóng giận tức thời của tôi lúc ấy. Nhưng rồi sau đó tôi buồn nhiều hơn giận.Không, anh không hiểu nổi cuộc chiến đấu của chúng tôi, của tôi. Nói thếnày thì nghe kiêu căng quá, nhưng thật vậy: nó ởngoài tầm với của anh. Biết làm sao?Trong hội nghịBan chấp hành Hội Nhà văn tháng 9-1988 họp nhờởhội trường nhà khách Trung ương Đoàn 15 HồXuân Hương, tuyệt đại đa sốBan chấp hành kết tội kịch liệt báo Văn nghệ, thông qua một cái nghịquyết chấn chỉnh tờbáo “vềmặt tổchức”, tức là sẽcách chức người phụtrách báo, anh Nông Quốc Chấn là người lên án báo dữdội nhất. Đến giờgiải lao, ra hành lang, anh hỏi tôi:–Tôi nói thế, anh có giận không?Tôi cười:–Chẳng chuyện gì mà giận. Chỉcó điều anh lạchậu quá, theo tôi anh chậm mất khoảng mười năm đấy.Vềsau tôi kểlại với Nguyễn Khoa Điềm. Điềm bảo:–Anh nói thếlà còn ít quá đấy!Quảthực cuộc đi tới gian nan và kịch liệt của xã hội, mà văn học như một mũi thăm dò tiên phong, đã chia rẽchúng tôiquá xa. Có người bảo là bè phái. Tôi không thấy như vậy. Tôi thấy đấy là một sựchia rẽsâu sắc. Cần gọi cho đúng cái tên của nó.*

30Trước Đại hội Nhà văn lần thứIIIvài tháng, anh Đào Duy Tùng, là ủy viên BộChính trị, đứng đầu phụtrách công tác tư tưởng, có mời tôi đến chơi. Chắc không phải “đến chơi”,bởi đến chơi thì mời vềnhà riêng. Anh mời tôi đến chỗlàm việc của Ban bí thư Trung ương Đảng, đường Nguyễn Cảnh Chân. Vậy tức là “làm việc”.Tôi biết sắp Đại hội Nhà văn rồi, các anh có lo lắng vềtôi. Việc tôi đi khỏi báo Văn nghệvậy mà ầm ĩ khá rộng và lâu, đến gần Đại hội lại càng rộlên, căng hơn. Chắc chắn trong Đại hội –mà lần này là đại hội toàn thể–nhiều người sẽđặt lại vấn đềtờbáo. Thậm chí có nguy cơ một sốkhông ít anh chịem sẽli khai khỏi Hội, nếu việc báo Văn nghệkhông được giải quyết thỏađáng. Và việc báo Văn nghệthì trực tiếp liên quan đến tôi. Tôi bỗng nhiên trởthành một thứđiểm trung tâm chúý của hai phía. Nhiều anh chịem muốn dựng tôi thành một thứ“ngọn cờđấu tranh”(!). Cấp trên thì lo không biết thái độcủa tôi trong Đại hội sẽnhưthếnào?Anh Đào Duy Tùng mời tôi đến hẳn là vì chuyện này thôi.Kỳthực sau vụbáo Văn nghệtôi muốn đứng ra ngoài cuộc. Có buồn, bực bội ít lâu, nhưng rồi tâm trạng tôi lại thanh thản. Bởi vì tôi tin rằng tôi đã làm xong một công việc cần thiết và đúng lúc, do tình thếgiao vào tay tôi một năm rưỡi ấy. Công việc đã làm ởbáo có hay có dở, có đúng có sai, vụng vềvà lầm lẫn cũng có, nhưng tôi cho rằng vềcơ bản tờbáo Văn nghệđã làmtròn vai trò tất yếu của nó trong một bước đi tất yếu của xã hội và của văn học. Bước ấy đã xong, văn học sẽtựnó đi tiếp bước khác, có thểcòn phức tạp, gian nan, mệt mềhơn, nhưng không gì cản lại được nữa.Tôi tin. Hồi ấy, trên một tờbáo, tôi có nói:“Tôi là người lạc quan”.Phần riêng tôi, tôi chỉcòn một lo lắng và đau khổ, lớn hơn nhiều: tôi vẫn chưa trởlại viết được!Anh Lê Ngọc TrảtừSài Gòn viết thư ra cho tôi:“Ởtrong này anh em vẫn nhắc đến anh và biết tin vui buồn vềanh. Anh em thương anh nhiều. Riêng tôi, tôi nghĩđợt này nếu anh có thì giờtập trung viết một cái gì đó, chắc sẽrất hay. Văn học là nỗi đau mà. Người đang đau như anh có nhiều điều đểnói hay lắm. Huống chi ởanh vốn sẵn có chất trữtình rất đậm và sâu của người vùng Trung Bộ. Chất trữtình ấy không nên thơ bay bổng bằng như chất thơ xứBắc, nhưng nó hấp dẫn và cuốn hút lắm…”Tôi gặp Lê Ngọc Trà lần đầu tiên là ởMaskova, sau khi đã đăng bài Văn học và chính trịcủa anh ít lâu.Lê Ngọc Trà đang bảo vệluận án tiến sĩ. Đêm Maskova rét không thểtưởng, đâu đến âm 30 hay 35 độ. Chúng tôi dìu nhau đi lang thang trên các hè phốvắng ngắt và băng đóng trơn như mỡ. Chúng tôi nói với nhau vềnhững triển vọng và khát khảo của văn học ta. Tôi đềnghịLê Ngọc Trà sau bài Văn học vàchính trịrồi, bây giờchuyển viết tiếp cho chúng tôi vấn đềVăn học và hiệnthực. Trà bảo:–Anh suy nghĩ vậy là đúng rồi. Tôi cũng đang nghĩ vấn đềấy. Phải lần lượt cốgắng giải quyết một sốvấn đềcơ bản anh ạ.Trà hỏi:–Tình hình ởnhà, sau nghịquyết 05 của Bộchính trị, như thếnào?Tôi nói:

31–Cái nghịquyết ấy thật hay, nhưng có phần hơi sớm hơn tình hình chung. Cơ sởxã hội cho một nghịquyết như vậy ởta chưa có đủ. Cho nên tôi chắc sắp tớinó (cái nghịquyết ấy) sẽrất vất vả, thậm chí có thểbịđẩy lùi. Nhưng dầu saocũng đã cắm được một cái mốc mới. Quan trọng lắm…Hơn tháng sau, trởvềHà Nội, tôi nhận được bài Văn học và hiện thựccủa Lê Ngọc Trà. Đó là một trong những bài lý luận văn học cơ bản nhất trên mặt báo, suốt thời gian tôi làm Văn nghệ…. Lê Ngọc Trà bảo là tôi “đang đau”. Tôi rất hiểu anh: anh hoàn toàn không muốn nói là tôi đau vì tôimất chức,cũng không phải là nỗi đau của một phen trảgiá. Cứcho là nỗi đau đi thì đấy là do tôi hiểu đời và hiểu người hơn, hay chính xác hơn, tôi hiểu chính tôi hơn. Cuộc vật lộn vừa qua rốt cuộc, lạthế, lại đưa tôi đến chỗđối diện với chính mình. Với cảcuộc đời mình.Tôi hiểu ra rằng đất nước, dân tộc này đang đối diện với chính mình. Văn học đang đối diện với chính mình. Từng người cũng vậy. Tôi cũng vậy.Đối diện, và cốtựtìm hiểu chính mình, cuộc đời mình, toàn bộhành trình và hành trang của chính mình. Một sựcốgắng vào loại khó khăn nhất, ráo riết và đau đớn nhất. Đòi hỏi dũng cảm lớn nhất.Tôi lại muốn đi lang thang. Hình như trong khi đi lang thang, dễsuy nghĩ hơn…Cho nên, thật tình tôi cho rằng sựlo lắng của các anh, của anh Tùng vềcái “thái độ”của tôi ởĐại hội nhà văn sắp tới là lạc lõng và nhỏnhặt quá. Tôi chẳng quan tâm gì lắm đến chuyện ấy. Có quan trọng gì lắm đâu cái Đại hội, cảcái Hội ấy nữa, mà các anh lo đến sốt vó thế!…Quảnhiên anh Tùng hỏi tôi dựkiến Đại hội sẽthếnào? Theo tôi nên thếnào?Tôi nói thẳng với anh:–Tôi chẳng có ý kiến gì.Bởi vì, theo tôi, Đại hội lẫn cảcái Hội nữa chẳng quyết định gì đối với văn học đâu. Có một cái Hội nhà văntốt hay không tốt thì vềcơ bản cũng chẳng làm sao đối với văn học cả. Các anh quá lo, là lầm. Khó nhất đối với nhà văn là việc anh ta ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với cái “pháp trường trắng”của anh, như Nguyễn Tuân nói. Đối mặt với nó, chỉđộc có mỗi mình anh. Chẳng ai, chẳng thếlực, chẳng hội hè nào giúp được anh chút gì trong cuộc đối mặt cô đơn và khủng khiếp đó. Bởi đó là cuộc đối mặt của anh với chính anh. Bản chất của công việc sáng tác là vậy.Chỉmong đừng có ai làm phiền nhiễu thêm họkhi họngồi trước trang giấy, trước chính họ, trong cuộc đối chất đau đớn, khắc nghiệt đó. Hội hè tuyệt nhiên chẳng hỗtrợgì cho họlúc ấy đâu. Hỗtrợcho họlúc ấy, anh ạ–tôi nói –xin anh đừng ngạc nhiên,có khi chẳng hạn lại là sựcó mặt của một người đàn bà mà họyêu say đắm, vô lý và tuyệt vọng… Tôi xin lỗi anh, không biết anh có hiểu không?Thếđấy, vậy việc gì các anh phải quá lo lắng thế. Tôi e các anh nhầm. Vấn đềlà ởchỗkhác kia.–Ởchỗnào? –Anh Tùng hỏi.–Ởchính người sáng tác.–…?

32–Anh đã mời tôi đến, anh đã hỏi, thôi hôm nay tôi sẽxin nói. Tôi sẽnói vềmột vấn đềcó thểanh cho là lạc đềnhưng tôi lại nghĩ là quan trọng hơn nhiều.Tôi sẽnói vềgiới trí thức, giới “sĩ phu”ởnước ta, mà cũng chỉxin nói riêng trong văn nghệ. Tôi muốn đềnghịĐảng nhìn lại tận gốc vấn đềnày, bởi đây mới là vấn đềgốc.Hãy lấy ví dụnhư nước Nga, mà ta từng rấtgần. Trước Cách mạng tháng 10, nước Nga, dầu là nước Nga phong kiến, đã là một quốc gia độc lập lâu đời.Họcó một giới sĩ phu đàng hoàng, cao lớn, độc lập. Những nhân cách đại thụ, đại biểu cho cảdân tộc, cho cảnền văn minh không chỉcủa nước Nga. Những Tolstoi và Dostoievski, những Nekrassov và Tourgueniev, những Ghersen và Dobrolioubov, những Leskov và Garchin. Chính vì có truyền thống lớn đó, mà sau Cách mạng, cảtrong những năm đen tối nhất dưới chếđộStalin, họvẫn còn những tài năng và nhân cách sừng sững, có thểbịgiết chết chứkhông thểbịbẻgục: những Bounin và Pilniak, những Mandelstam và Tvardovski, những Soljenitsyn và Pasternak, những Tsetaieva và Akhmatova, những Boulgakov và Eisenstein… Họvẫn còn một nền văn học và nghệthuật lớn…Giới trí thức văn học nghệthuật ởta trước Cách mạng tháng Tám có một chỗmạnh và rất quan trọng: lòng yêu nước nồng nàn.Và cuộc cách mạng của chúng ta suốt mấy chục năm qua chủyếu là cuộc cách mạng cứu nước, giải phóng dân tộc. Hãy nhớlại xem: hầu hết lớp văn nghệsĩ ta thường gọi là tiền chiến, những người tên tuổi và tài năng nhất đều đi theo cách mạng và kháng chiến. Chúng ta chỉmất đôi ba người. Chẳng hạn trong hội hoạ, người tài năng nhất, Nguyễn Gia Trí, không đi với kháng chiến. Nhưng ông cũng không theo giặc. Ông vào Sài Gòn, cặm cụi vẽ, rồi sang Paris, vẫn cặm cụi vẽ. Trong âm nhạc, có lẽchúng ta mất một tài năng đáng tiếc: Phạm Duy… Nhưng cũng chỉđôi ba người, đếm được trên đầu ngón tay, vậy thôi. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Tô Hoài, ChếLan Viên, Nam Cao, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Văn Cao… đều đi với Cách mạng, cho đến tận ngày nay. Thật quí, không dễgì được thế.Nhưng đồng thời, tôi mạnh dạn nghĩvà hôm nay nói rõ với anh, vềcơ bản lớp trí thức văn nghệtiền chiến ởta cũng chỉlà lớp trí thức nhỏbé của một nước thuộc địa nhỏbé. Một trong những nét tính cách bẩm sinh ởhọlà sựươn hèn. Một lớp sĩ phu ươn hèn. Những Phan Bội Châu, những Phan Châu Trinh đã hết.Trong giới chúng tôi có một người cầm bút lão thành vẫn được tiếng là người cương trực nhất. Tôi kính trọng ông. Đám tang ông, tôi đã làm rất to trên tờbáo của tôi. Nhưng tôi cũng biết cái cương trực của ông, nói cho cùng, cũng chỉlà cương trực… vặt. Người ta dại dột đi sơn cái Tháp Rùa, ông chửi vung lên. Xây nhà cao tầng nhiều quanh HồGươm, ông cũng lại chửi om lên, bảo là biến cái hồđẹp thếthành cái giếng mất… Vậy đó thôi. Chứnhững chuyện đại sựquốc gia, đã bao giờthấy ông dám có tiếng nói lớn, độc lập. Boulgakov có thểngửa tay xin Stalin một chân kéo màn rạp hátđểkiếm sống, nhưng nhà văn cổđiển của thời đại văn học xô-viết ấy, trong quan điểm và sáng tác của mình, đến chết không hềchịu lùi một li. Pasternak khi bịcảHội nhà văn Liên Xô la ó đuổi ra khỏi Hội vì cái giải Nobel trao cho ông, đã viết mấy chữgửi Hội nhà văn:“Tôi hiểu hoàn cảnh buộc các bạn phải làm việc này, tôi tha thứcho tất cảcác bạn”.Còn ông già tài hoa và cương trực của chúng tôi, ông biết ông vừa bịchếđộnghi ngờ, khinh rẻ, lại vừa được chếđộvì nể, ông bèn “làm nũng”với chếđộ, thỉnh thoảng lại làm mình làm mẩy đôi chút. Thếthôi. Ít lâu trước khi mất, ông tâm sựbuồn rầu và chua chát: “Mình còn sống được đến ngay nay là vì mình biết… sợ”.

33Trong mỗi vị“sĩ phu”ấy của chúng ta đều có một viên công chức nhỏbé của Tchekhov…Cái chất viên chức nhỏbé Tchekhov bẩm sinh đó, từsau Cách mạng lại bịmột loạt cuộc vùi dập thô bạo liên tục: cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, cải tạo này rồi đến cải tạo khác,tư tưởng văn nghệDiên An, các vụán văn nghệliên tiếp… càng làm cho nhỏbé thêm đi, co lại, gập xuống…Chúng ta không có một lớp trí thức tiền chiến lớn –đó là điều cần nhìn thẳng và suy nghĩ.Đến thếhệchúng tôi, dầu muốn dầu không, chúng tôi cũng kếthừa họ. Cảchất ươn hèn lẫn sựkhôn ngoan vặt của họ. Chúng tôi vừa coi thường họvì chúng tôi biết nhân cách của họcũng chỉlằng nhằng thếthôi, lại vừahọc bài học đau đời của họ: phải biết sợđểmà sống.Sựkếthừa ấy còn kéo dài đến cảthếhệsau chúng tôi, trong tình thếbây giờlại còn pha thêmnhững tạp chất cơ hội và lưu manh; tất nhiên không phải ởtất cả, nhưng đại thểlà như vậy.Các anh thường hỏi: tại sao chúng ta chưa có tác phẩm lớn? Tôi xin trảlời: vì chúng ta chưa có những nhân cách lớn.Đổi mới trong xã hội và trong văn nghệmấy năm qua đã đem lại những gì? Có tác phẩm khá hơn, có đời sống văn học nghệthuật phong phú sinh động hơn. Nhưng nói thật cũng chưa có gì ghê gớm đặc sắc lắm đâu. Và cũng không phải là cái quan trọng nhất.Thành quảquan trọng nhất vừa qua, theo tôi, là sựbắt đầu nhận ra, bắt đầu ý thức và khôi phục cái vịthế, cái tư cách đàng hoàng, độc lập, tựdo, trách nhiệmcủa người cầm bút, ởtrong chính người cầm bút, trước đất nước, nhân dân và Đảng của mình.Đó là sựgiải phóng bên trong của người nghệsĩ, tựdo bên trong thật sựcủa người cầm bút. Theo tôi, cái ấy đã bắt đầu, đã bắt đầu có. Và sựthức tỉnh đó là quyết định, tức là không thểđảo ngược được, dầu còn rất nhiều đau đớn và trảgiá.Nếu phải nói một điều gì đó vềĐại hội nhà văn sắp tới thì tôi xin nói: tôi tin Đại hội sẽdiễn ra theo hướng đó. Và như vậy là đáng mừng, cho Đảng, cho đất nước, cho văn học.Nhưng hình như các anh lại lo lắng vềchính cái điều tôi cho là đáng mừng đó, các anh vội tìm cách ngăn lại. Có lẽcũng ít chếđộnào nâng niu chăm sóc bao cấp cho văn nghệsĩ bằng chếđộta. Nhưng đó là kiểu nuôi nấng o bếmột đám con hát, một đám cung văn.Chúng tôi không cần cái ấy, chúng tôi chiến đấu cho một tư thếđộc lập, tựdo đàng hoàng và đầy trách nhiệm của nhà văn trước đất nước…Anh Tùng lắng nghe, không cắt lời tôi. Cuối cùng anh bảo:–Vấn đềanh nêu ra là đáng suy nghĩ, có chỗtôi đòng ý, cũng có chỗchưa đồng ý. Lần khác ta sẽtrao đổi tiếp.Trước khi ra về, tôi nói:

34–Tôi không còn làm báo Văn nghệnữa. Nếu còn làm thì dựđịnh của tôi là sau mảng đềtài nông thôn, tôi sẽtriển khai tiếp vấn đềquan trọng hơn là vấn đềtrí thức…Không thấy anh nói gì.Cũng không thấy anh mời tôi đến chơi nữa.*Những điều tôi nói với anh Đào Duy Tùng hôm đó thật sựlà những điều tâm huyết của tôi suốt thời gian tôi “nắm”tờbáo Văn nghệ. Khi không ởbáo nữa,đó vẫn là tâm huyết của tôi trong mọi việc tôi còn có thểlàm chút gì đó cho văn học. Và cũng là, trước hết, tựlàm cho chính tôi. Tựgiải phóng mình.Trong mỗi chúng ta, đều có một kẻnô lệ. Lạthay cái chếđộcủa chúng ta, cái chếđộkhát khao hơn bất cứthời đại nào trước giải phóng cho đất nước, cho con người… cuối cùng lại đi đến vùi dập, bóp nghẹt con người. Lại làm đậm thêm cái chất nô lệtrong con người.Tôi biết, tôn tin rằng những người cầm bút, đặc biệt những cây bút trẻ, đã ý thức ngày càng rõ điều ấy, và quyết phá vỡra. Mỗi người một cách,ởnhững mức độkhác nhau.Nguyễn Khải rụt rè nói về“cái thời lãng mạn ấy”. Tính anh vốn thế, chẳng quyết liệt bao giờ. Nhưng tôi nhận ra, đằng sau cái rụt rè còn mong manh ấy một cái cười chua chát tựchếriễu mình. Được chừng ấy cũng đã là quý lắm rồi.Nguyễn Minh Châu lầm lì nhưng liều lĩnh, tuyên bốAi điếu cho một thời văn nghệminh hoạ. Bài đưa ra tòa soạn, nhiều anh em rất ngại, nhưng tôi cứquyết định đăng. Bởi tôi biết Nguyễn Minh Châu cốmột trận quyết rứt mình ra đểđi tới, chuyển sang một trận khác. Tôi cảm phục anh và biết tiếng nói của anh sẽgiúp thêm nghịlực cho bao nhiêu người còn chần chừ.Dương Thu Hương vừa đằm thắm –ít ai viết được vềngười mẹquê Việt chúng ta đậm sâu như chịtrong Những thiên đường mù–lại vừa đáo để, đến cảhỗn xược –cũng trong chính Những thiên đường mù.Phạm ThịHoài táo tợn muốn tháo bỏtất cảmọi ràng buộc, cho đến cảnhững khu vực có tính bản năng của con người. Cây bút nữấy chẳng chút xấu hổmuốn lột trần trụi con người ra trước chính nó. Tôi biết nhiều lúc chịhơi quá thông minh và điệu đà. Nhưng tôi ủng hộchị. Cũng là một cửa mởcho sựgiải phóng.Nguyễn Huy Thiệp thì đã hoàn toàn khác. Mọi giá trịtừng được thờcúng với anh đều trởthành trần tục hết. Anh không ngại đến cảthô lỗvà tục tĩu khi lạnh lùng phanh phui sựthật. Con dao mổấy quá sắc, quá lạnh, nhiều khi đến chối. Nhưng đểbắt đầu lại, làm lại một thếgiới người cho ra người khác, tránh sao được những cuộc phá vỡcó khi tàn bạo?Tôi đăng Thiệp không phân vân.

35Những sáng tác trên báo Văn nghệthời ấy không phải cái nào cũng là văn chương,–tôi biết. Nhiều người trách: tờbáo hạthấp văn chương. Nguyễn Đình Thi làm tạp chí Tác phẩm mớichủtrương văn chương phải sang trọng.Tôi thì lúc này tôi nghĩ khác: cuộc cày xới thì ngổn ngang. Tôi chấp nhận cái ngổn ngang ấy. Nó xới lên hơi đất hôi hổi của cuộc sống thực.Rồi đến một lúc mới có thểBước qua lời nguyềnvà Nỗi buồn chiến tranh.Không ai sang trọng được khi đang cầy vỡruộng.Lại cũng có người trách: tôi tâng bốc quá đáng lớp trẻ, làm mất lòng bao nhiêu người già.Có lẽquảcó thếthật. Tâng bốc thì không đúng.Nhưng đặt nhiều lòng tin vào họthì có. Tôi biết cuộc phá vỡnày quá quyết liệt, đểlớp người đã nặng nợnhiều với quá khứkhó có thểđủsức làm nổi.Vềsau tờbáo bịkết tội gây bè phái chia rẽlàm rối tung nội bộHội nhà văn. Tôi thì tôi muốn nói chính xác hơn: nó làm phân hóa rõ rệt lực lượng trong cuộc đi tới quằn quại dữdội này của văn học. Cái tội đó, nó xin chịu.*Tháng 12-1988, sựnứt vỡđã không còn cứu vãn được nữa. Những thếlực chống lại sựđi tới đã căm tức đến cực độ. Sựphân hóa đã quá lớn.Còn tôi thì quá nhiều sơ hởvụng vềđểcho trận địa của mình bịtiến đánh từmọi phía. Một trong những vụng vềnguy hiểm là tôi đã đểcho tờbáo nhô lên quá nhọn. Trong đội hình đi tới chung của báo chí, và có thểcủa cảxã hội lúc này đang có phần bịđẩy chững lại. Trong chiến đấu, cáikhối lồi lù lù như thếtất sẽbịgạt đi cho kỳđược.Tôi ra đi là phải.Biện pháp đã được dùng đểđẩy tôi đi có thểlà vụng về, thô bạo. Nhưng chẳng quan trọng gì cái chuyện ấy. Có thểkhéo hơn, lịch sựnhẹnhàng hơn một chút. Nhưng rồi tất cũng thếthôi.Nhiều anh chịem ấm ức bảo tôi cốkéo dài thêm. Trưa ngày hôm ấy, 2-12-1988, tôi nói:–Thôi, đủrồi!Trước cuộc họp toàn thểtòa soạn, Chính Hữu đọcquyết định “thuyên chuyển công tác”tôi. Tôi bảo:–Tôi chẳng chuyển đi đâu cả. Tôi chỉthôi công việc ởđây.Và hỏi:

27Trong hội nghịBan chấp hành tháng 9-1988, Nguyễn Đình Thi yêu cầu Ban chấp hành biểu quyết Ban chấp hành nhất trí tán thành nội dung Tờtrình đã gửi lên Ban bí thư từtháng 6-1988.Anh Nguyễn Văn Bổng không chịu. Anh bảo:–Tôi có đồng ý cái tờtrình ấy đâu mà biểu quyết nhất trí!Bàn cãi lung tung một lúc, Nguyễn Đình Thi lại nảy ra sáng kiến:–Vậy đềnghịhội nghịbiểu quyết tán thành rằng Ban thư ký có quyền gửi một tờtrình lên Ban bí thư Trung ương.Ơ, tôi ngạc nhiên. Gửi một tờtrình thì ai mà chẳng có quyền. Tôi cũng giơ tay nè. Quay lại, thấy Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi im, nhất định không chịu giơ tay. Điềm nói:–Tôi cũng là uỷviên Ban thư ký. Nếu là tờtrình của Ban thư ký thì chỉcần Tổng thưký hoặc một phó thay mặt Tổng thư ký ký. Đằng này có ba người ký. Vậy là thếnào? Vậy đấy không phải là một tờtrình của Ban thư ký. Đấy là một hành động có tính chất bè phái của ba người ấy.Tôi phục lăn Nguyễn Khoa Điềm. Anh là người làm chính trịthật. Giỏi thế. Tôi vẫn chỉlà cái anh nghệsĩ tùy tiện, lang thang.Nguyễn Minh Châu, lúc này đã ốm nặng lắm, bảo tôi:–Có cái tờtrình đó là đểđi đến diệt tờbáo đấy. Cậu chuẩn bịtinh thần đi là vừa. Nhưng cứphải giữvững cho đến cùng, cho đến phút chót. Sốcậu khổđấy.Châu nói đến cái sốkhổcủa tôi. Anh không hềnói đến cáisốcủa anh. Những ngày ấy, căn bệnh hiểm nghèo đã phá vỡgần hết hồng huyết cầu của anh.Cũng vềchuyện cái tờtrình đó, đâu vào khoảng tháng 10-1988, một hôm ngồi với Nguyễn Khải ở43 Đồng Khởi Sài Gòn, nói chuyện gần suốt buổi, Khải bảo tôi:–Nhiều suy nghĩ của Ngọc, mình tán thành cả, Ngọc cũng biết rồi. Nhưng việc ông đểcho tờbáo đi theo con đường ấy thì mình rất lo. Mình lo có những người, những lực lượng muốn dùng tờbáo, dùng cảcái Hội của ta, cho những mục đích chính trịriêng của họ. Rất nguy hiểm.Tôi nói:–Thôi được, những suy nghĩ, những mối lo của từng người trong chúng ta có thểkhác nhau. Nhưng trong quan hệbạn bè và quan hệcùng làm việc với nhau, có một cái ranh giới không thểvượt qua được, nếu đã cùng tin nhau, cùng làmviệc với nhau vì một ý hướng chung. Ông ký tên dưới cái tờtrình nọlà ông đã vượt qua cái ranh giới ấy rồi đấy. Như vậy là không được.Khải không nói gì nữa.

28Gần hai tháng sau, khi ởHà Nội người ta đưa tôi đi khỏi báo Văn nghệ, đột ngột Nguyễn Khải từSài Gòn gửi ra một bức điện: “Tôi không đồng ý thay tổng biên tập báo Văn nghệ”.Tất nhiên cái bức điện của vịphó Tổng thư ký Hội ấy có làm cho một sốngười ởHà Nội khó chịu, nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Có lẽnó chỉcó một chút tác dụng nào đó đối với chính Khải thôi.Tôi hiểu Khải, người bạn rất lâu năm của tôi, từngày “Ơ, cái thằng này nó biết đọc tiếng Tây chúng mày ơi!”9ii.Tôi hiểu bi kịch của Khải. Có lẽtrong cái cuộc vừa qua, anh là người buồn và cô đơn nhất.Anh biết tất cảnhưng vừa biết vừa thường làm ngược lại cái biết rất sắc sảo của anh. Anh cô đơn với chung quanh nhưng chắc còn gay go hơn, buồn hơn, cô đơn với chính mình.Có thời gian Nguyễn Khải hiểu lầm anh Trần Độ, nghi rằng anh Độmuốn loại Khải ra trong phương án dựkiến của anh. Nhưng tôi thì tôi biết rõ. Chính vào lúc quan hệgiữa Khải và tôi đang căng, lại thêm sựxúc xiểm của một sốkẻtrung gian, anh Trần Độnói với tôi:“Đừng nghĩ sai vềKhải. Hãy đọc những cái Khải viết. Cậu ấy có thểnói, làm thếnày thếkhác, nhưng trong cái viết, Khải vẫn rất rõ ràng, mạnh mẽ. Đó mới là cái chính…”.Gần đây, một hôm ởSài Gòn, Khải hỏi tôi:–Nghe nói sức khoẻanh Độyếu đi nhiều phải không?Tôi nghe trong giọng anh một mối lo chân thành, một tình cảm quý trọng thật sự.Con người nhưvậy đó. Chẳng đơn giản chút nào.Chính Hữu chắc chắn khác hẳn Nguyễn Khải. Khải chưa bao giờ, không bao giờlà công chức. Anh vừa sống trong một guồng máy chính quyền, quân đội, nhẫn nhục chịu sựchi phối của guồng máy nặng nềấy, trông anh lúc nào cũng buồn buồn, có chút gì đó như chán nản, lại vừa sống ngoài rìa bộmáy, thông minh và sắc sảo nhìn cái bộmáy ấy bằng đôi mắt mỉa mai, một sựmỉa mai pha lẫn bất lực. Anh chưa bao giờlà mộtnhà văn-chiến sĩ.không làm được và cũng không muốn nhận cái chức hiệu hùng hồn ấy; nhưng lại cũng không đủsức làm một người tựdo thật sự. Có lẽchẳng phải ngẫu nhiên mà một quyển tiểu thuyết gần đây của anh mang cái tên vừa to tát vừa buồn: Một cõi nhân gian bé tí.Nguyễn Minh Châu cũng có một quyển tiểu thuyết chưa kịp viết, định lấy tên là Cõi người. Châu muốn đắm mình, như một sinh linh bé nhỏ, trong cái đắm chìm khổđau kiếp người. Khải cũng nhìn thấy và muốn nói vềcái cõiấy, nhưng anh không đủsức, không dám thảhết mình vào đó như Châu. Anh vừa mỉa mai coi khinhcái guồng máy, vừa vẫn cứbám vào nó mà sống, đôi lúc còn tham gia sựvận hành của nó nữa.Khối mâu thuẫn ởKhải dường như cũng là khối mâu thuẫn của không ít trí thức ởta bây giờ.Chính Hữu thì không được đến vậy. Anh bịcông chức hóa sâu hơn, liên tục hơn, dài hơn và đậm hơn nhiều. Tư thếcông chức tận tụyvà nghiêm túc giết đi gần hết cái phần nhà thơ từng có thểtài hoa, con người vốn từng lãngmạn trong anh. Anh cưỡng lại ngày một yếu

29ớt, và cuối cùng tựmình trởthành một bộphận của cái thếlực bắtcon người phải quy phục mà chính anh từng là nạn nhân của nó.Đấy cũng là một thứbi kịch, càng đáng buồn hơn.ỞChính Hữu tôi thường thấy cùng một lúc hai thái độsống chừng nhưđối nghịch: anh không thíchnhiễu sự, có phần an phận nữa là khác, nhưng lắmkhi lại cũng rất dữdằn, quyết liệt gây sự. Tôi tin rằng trong con người ấy cũng từng có sựgiằng xé, nhưng sựgiằng xé ngày càng yếu đi, mòn mỏi, đến gần như chẳng còn gì.Những con người như vậy sẽxa dần đời sống sinh động thực –không phải chỉđời sống xã hội hỗn độn bên ngoài. Họxa dần, mất liên lạc dần và đến mất hẳn, tắt hẳn mọi liên lạc với đời sống phức tạp và hạnh phúc, khát vọng và quằn quại bên trong con người.Lời nói độc địa và hỗn xược của Chính Hữu coi công chúng thời ấy của báo Văn nghệchỉlà đám người u mê xúm quanh “cô gái cởi truồng đứnggiữa ngã tưđường”còn tờbáo thì chính là cô gái ô uếnọ, tôi tin rằng anh hoàn toàn nghĩ thật, nói thật. Anh không hềlỡlời đâu. Tôi dận gót giầy đùng đùng xuống mặt sàn gỗcăn phòng gác hai 65 Nguyễn Du và hung hăng mắng lại anh, là một hành động nóng giận tức thời của tôi lúc ấy. Nhưng rồi sau đó tôi buồn nhiều hơn giận.Không, anh không hiểu nổi cuộc chiến đấu của chúng tôi, của tôi. Nói thếnày thì nghe kiêu căng quá, nhưng thật vậy: nó ởngoài tầm với của anh. Biết làm sao?Trong hội nghịBan chấp hành Hội Nhà văn tháng 9-1988 họp nhờởhội trường nhà khách Trung ương Đoàn 15 HồXuân Hương, tuyệt đại đa sốBan chấp hành kết tội kịch liệt báo Văn nghệ, thông qua một cái nghịquyết chấn chỉnh tờbáo “vềmặt tổchức”, tức là sẽcách chức người phụtrách báo, anh Nông Quốc Chấn là người lên án báo dữdội nhất. Đến giờgiải lao, ra hành lang, anh hỏi tôi:–Tôi nói thế, anh có giận không?Tôi cười:–Chẳng chuyện gì mà giận. Chỉcó điều anh lạchậu quá, theo tôi anh chậm mất khoảng mười năm đấy.Vềsau tôi kểlại với Nguyễn Khoa Điềm. Điềm bảo:–Anh nói thếlà còn ít quá đấy!Quảthực cuộc đi tới gian nan và kịch liệt của xã hội, mà văn học như một mũi thăm dò tiên phong, đã chia rẽchúng tôiquá xa. Có người bảo là bè phái. Tôi không thấy như vậy. Tôi thấy đấy là một sựchia rẽsâu sắc. Cần gọi cho đúng cái tên của nó.*

30Trước Đại hội Nhà văn lần thứIIIvài tháng, anh Đào Duy Tùng, là ủy viên BộChính trị, đứng đầu phụtrách công tác tư tưởng, có mời tôi đến chơi. Chắc không phải “đến chơi”,bởi đến chơi thì mời vềnhà riêng. Anh mời tôi đến chỗlàm việc của Ban bí thư Trung ương Đảng, đường Nguyễn Cảnh Chân. Vậy tức là “làm việc”.Tôi biết sắp Đại hội Nhà văn rồi, các anh có lo lắng vềtôi. Việc tôi đi khỏi báo Văn nghệvậy mà ầm ĩ khá rộng và lâu, đến gần Đại hội lại càng rộlên, căng hơn. Chắc chắn trong Đại hội –mà lần này là đại hội toàn thể–nhiều người sẽđặt lại vấn đềtờbáo. Thậm chí có nguy cơ một sốkhông ít anh chịem sẽli khai khỏi Hội, nếu việc báo Văn nghệkhông được giải quyết thỏađáng. Và việc báo Văn nghệthì trực tiếp liên quan đến tôi. Tôi bỗng nhiên trởthành một thứđiểm trung tâm chúý của hai phía. Nhiều anh chịem muốn dựng tôi thành một thứ“ngọn cờđấu tranh”(!). Cấp trên thì lo không biết thái độcủa tôi trong Đại hội sẽnhưthếnào?Anh Đào Duy Tùng mời tôi đến hẳn là vì chuyện này thôi.Kỳthực sau vụbáo Văn nghệtôi muốn đứng ra ngoài cuộc. Có buồn, bực bội ít lâu, nhưng rồi tâm trạng tôi lại thanh thản. Bởi vì tôi tin rằng tôi đã làm xong một công việc cần thiết và đúng lúc, do tình thếgiao vào tay tôi một năm rưỡi ấy. Công việc đã làm ởbáo có hay có dở, có đúng có sai, vụng vềvà lầm lẫn cũng có, nhưng tôi cho rằng vềcơ bản tờbáo Văn nghệđã làmtròn vai trò tất yếu của nó trong một bước đi tất yếu của xã hội và của văn học. Bước ấy đã xong, văn học sẽtựnó đi tiếp bước khác, có thểcòn phức tạp, gian nan, mệt mềhơn, nhưng không gì cản lại được nữa.Tôi tin. Hồi ấy, trên một tờbáo, tôi có nói:“Tôi là người lạc quan”.Phần riêng tôi, tôi chỉcòn một lo lắng và đau khổ, lớn hơn nhiều: tôi vẫn chưa trởlại viết được!Anh Lê Ngọc TrảtừSài Gòn viết thư ra cho tôi:“Ởtrong này anh em vẫn nhắc đến anh và biết tin vui buồn vềanh. Anh em thương anh nhiều. Riêng tôi, tôi nghĩđợt này nếu anh có thì giờtập trung viết một cái gì đó, chắc sẽrất hay. Văn học là nỗi đau mà. Người đang đau như anh có nhiều điều đểnói hay lắm. Huống chi ởanh vốn sẵn có chất trữtình rất đậm và sâu của người vùng Trung Bộ. Chất trữtình ấy không nên thơ bay bổng bằng như chất thơ xứBắc, nhưng nó hấp dẫn và cuốn hút lắm…”Tôi gặp Lê Ngọc Trà lần đầu tiên là ởMaskova, sau khi đã đăng bài Văn học và chính trịcủa anh ít lâu.Lê Ngọc Trà đang bảo vệluận án tiến sĩ. Đêm Maskova rét không thểtưởng, đâu đến âm 30 hay 35 độ. Chúng tôi dìu nhau đi lang thang trên các hè phốvắng ngắt và băng đóng trơn như mỡ. Chúng tôi nói với nhau vềnhững triển vọng và khát khảo của văn học ta. Tôi đềnghịLê Ngọc Trà sau bài Văn học vàchính trịrồi, bây giờchuyển viết tiếp cho chúng tôi vấn đềVăn học và hiệnthực. Trà bảo:–Anh suy nghĩ vậy là đúng rồi. Tôi cũng đang nghĩ vấn đềấy. Phải lần lượt cốgắng giải quyết một sốvấn đềcơ bản anh ạ.Trà hỏi:–Tình hình ởnhà, sau nghịquyết 05 của Bộchính trị, như thếnào?Tôi nói:

31–Cái nghịquyết ấy thật hay, nhưng có phần hơi sớm hơn tình hình chung. Cơ sởxã hội cho một nghịquyết như vậy ởta chưa có đủ. Cho nên tôi chắc sắp tớinó (cái nghịquyết ấy) sẽrất vất vả, thậm chí có thểbịđẩy lùi. Nhưng dầu saocũng đã cắm được một cái mốc mới. Quan trọng lắm…Hơn tháng sau, trởvềHà Nội, tôi nhận được bài Văn học và hiện thựccủa Lê Ngọc Trà. Đó là một trong những bài lý luận văn học cơ bản nhất trên mặt báo, suốt thời gian tôi làm Văn nghệ…. Lê Ngọc Trà bảo là tôi “đang đau”. Tôi rất hiểu anh: anh hoàn toàn không muốn nói là tôi đau vì tôimất chức,cũng không phải là nỗi đau của một phen trảgiá. Cứcho là nỗi đau đi thì đấy là do tôi hiểu đời và hiểu người hơn, hay chính xác hơn, tôi hiểu chính tôi hơn. Cuộc vật lộn vừa qua rốt cuộc, lạthế, lại đưa tôi đến chỗđối diện với chính mình. Với cảcuộc đời mình.Tôi hiểu ra rằng đất nước, dân tộc này đang đối diện với chính mình. Văn học đang đối diện với chính mình. Từng người cũng vậy. Tôi cũng vậy.Đối diện, và cốtựtìm hiểu chính mình, cuộc đời mình, toàn bộhành trình và hành trang của chính mình. Một sựcốgắng vào loại khó khăn nhất, ráo riết và đau đớn nhất. Đòi hỏi dũng cảm lớn nhất.Tôi lại muốn đi lang thang. Hình như trong khi đi lang thang, dễsuy nghĩ hơn…Cho nên, thật tình tôi cho rằng sựlo lắng của các anh, của anh Tùng vềcái “thái độ”của tôi ởĐại hội nhà văn sắp tới là lạc lõng và nhỏnhặt quá. Tôi chẳng quan tâm gì lắm đến chuyện ấy. Có quan trọng gì lắm đâu cái Đại hội, cảcái Hội ấy nữa, mà các anh lo đến sốt vó thế!…Quảnhiên anh Tùng hỏi tôi dựkiến Đại hội sẽthếnào? Theo tôi nên thếnào?Tôi nói thẳng với anh:–Tôi chẳng có ý kiến gì.Bởi vì, theo tôi, Đại hội lẫn cảcái Hội nữa chẳng quyết định gì đối với văn học đâu. Có một cái Hội nhà văntốt hay không tốt thì vềcơ bản cũng chẳng làm sao đối với văn học cả. Các anh quá lo, là lầm. Khó nhất đối với nhà văn là việc anh ta ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với cái “pháp trường trắng”của anh, như Nguyễn Tuân nói. Đối mặt với nó, chỉđộc có mỗi mình anh. Chẳng ai, chẳng thếlực, chẳng hội hè nào giúp được anh chút gì trong cuộc đối mặt cô đơn và khủng khiếp đó. Bởi đó là cuộc đối mặt của anh với chính anh. Bản chất của công việc sáng tác là vậy.Chỉmong đừng có ai làm phiền nhiễu thêm họkhi họngồi trước trang giấy, trước chính họ, trong cuộc đối chất đau đớn, khắc nghiệt đó. Hội hè tuyệt nhiên chẳng hỗtrợgì cho họlúc ấy đâu. Hỗtrợcho họlúc ấy, anh ạ–tôi nói –xin anh đừng ngạc nhiên,có khi chẳng hạn lại là sựcó mặt của một người đàn bà mà họyêu say đắm, vô lý và tuyệt vọng… Tôi xin lỗi anh, không biết anh có hiểu không?Thếđấy, vậy việc gì các anh phải quá lo lắng thế. Tôi e các anh nhầm. Vấn đềlà ởchỗkhác kia.–Ởchỗnào? –Anh Tùng hỏi.–Ởchính người sáng tác.–…?

32–Anh đã mời tôi đến, anh đã hỏi, thôi hôm nay tôi sẽxin nói. Tôi sẽnói vềmột vấn đềcó thểanh cho là lạc đềnhưng tôi lại nghĩ là quan trọng hơn nhiều.Tôi sẽnói vềgiới trí thức, giới “sĩ phu”ởnước ta, mà cũng chỉxin nói riêng trong văn nghệ. Tôi muốn đềnghịĐảng nhìn lại tận gốc vấn đềnày, bởi đây mới là vấn đềgốc.Hãy lấy ví dụnhư nước Nga, mà ta từng rấtgần. Trước Cách mạng tháng 10, nước Nga, dầu là nước Nga phong kiến, đã là một quốc gia độc lập lâu đời.Họcó một giới sĩ phu đàng hoàng, cao lớn, độc lập. Những nhân cách đại thụ, đại biểu cho cảdân tộc, cho cảnền văn minh không chỉcủa nước Nga. Những Tolstoi và Dostoievski, những Nekrassov và Tourgueniev, những Ghersen và Dobrolioubov, những Leskov và Garchin. Chính vì có truyền thống lớn đó, mà sau Cách mạng, cảtrong những năm đen tối nhất dưới chếđộStalin, họvẫn còn những tài năng và nhân cách sừng sững, có thểbịgiết chết chứkhông thểbịbẻgục: những Bounin và Pilniak, những Mandelstam và Tvardovski, những Soljenitsyn và Pasternak, những Tsetaieva và Akhmatova, những Boulgakov và Eisenstein… Họvẫn còn một nền văn học và nghệthuật lớn…Giới trí thức văn học nghệthuật ởta trước Cách mạng tháng Tám có một chỗmạnh và rất quan trọng: lòng yêu nước nồng nàn.Và cuộc cách mạng của chúng ta suốt mấy chục năm qua chủyếu là cuộc cách mạng cứu nước, giải phóng dân tộc. Hãy nhớlại xem: hầu hết lớp văn nghệsĩ ta thường gọi là tiền chiến, những người tên tuổi và tài năng nhất đều đi theo cách mạng và kháng chiến. Chúng ta chỉmất đôi ba người. Chẳng hạn trong hội hoạ, người tài năng nhất, Nguyễn Gia Trí, không đi với kháng chiến. Nhưng ông cũng không theo giặc. Ông vào Sài Gòn, cặm cụi vẽ, rồi sang Paris, vẫn cặm cụi vẽ. Trong âm nhạc, có lẽchúng ta mất một tài năng đáng tiếc: Phạm Duy… Nhưng cũng chỉđôi ba người, đếm được trên đầu ngón tay, vậy thôi. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Tô Hoài, ChếLan Viên, Nam Cao, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Văn Cao… đều đi với Cách mạng, cho đến tận ngày nay. Thật quí, không dễgì được thế.Nhưng đồng thời, tôi mạnh dạn nghĩvà hôm nay nói rõ với anh, vềcơ bản lớp trí thức văn nghệtiền chiến ởta cũng chỉlà lớp trí thức nhỏbé của một nước thuộc địa nhỏbé. Một trong những nét tính cách bẩm sinh ởhọlà sựươn hèn. Một lớp sĩ phu ươn hèn. Những Phan Bội Châu, những Phan Châu Trinh đã hết.Trong giới chúng tôi có một người cầm bút lão thành vẫn được tiếng là người cương trực nhất. Tôi kính trọng ông. Đám tang ông, tôi đã làm rất to trên tờbáo của tôi. Nhưng tôi cũng biết cái cương trực của ông, nói cho cùng, cũng chỉlà cương trực… vặt. Người ta dại dột đi sơn cái Tháp Rùa, ông chửi vung lên. Xây nhà cao tầng nhiều quanh HồGươm, ông cũng lại chửi om lên, bảo là biến cái hồđẹp thếthành cái giếng mất… Vậy đó thôi. Chứnhững chuyện đại sựquốc gia, đã bao giờthấy ông dám có tiếng nói lớn, độc lập. Boulgakov có thểngửa tay xin Stalin một chân kéo màn rạp hátđểkiếm sống, nhưng nhà văn cổđiển của thời đại văn học xô-viết ấy, trong quan điểm và sáng tác của mình, đến chết không hềchịu lùi một li. Pasternak khi bịcảHội nhà văn Liên Xô la ó đuổi ra khỏi Hội vì cái giải Nobel trao cho ông, đã viết mấy chữgửi Hội nhà văn:“Tôi hiểu hoàn cảnh buộc các bạn phải làm việc này, tôi tha thứcho tất cảcác bạn”.Còn ông già tài hoa và cương trực của chúng tôi, ông biết ông vừa bịchếđộnghi ngờ, khinh rẻ, lại vừa được chếđộvì nể, ông bèn “làm nũng”với chếđộ, thỉnh thoảng lại làm mình làm mẩy đôi chút. Thếthôi. Ít lâu trước khi mất, ông tâm sựbuồn rầu và chua chát: “Mình còn sống được đến ngay nay là vì mình biết… sợ”.

33Trong mỗi vị“sĩ phu”ấy của chúng ta đều có một viên công chức nhỏbé của Tchekhov…Cái chất viên chức nhỏbé Tchekhov bẩm sinh đó, từsau Cách mạng lại bịmột loạt cuộc vùi dập thô bạo liên tục: cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, cải tạo này rồi đến cải tạo khác,tư tưởng văn nghệDiên An, các vụán văn nghệliên tiếp… càng làm cho nhỏbé thêm đi, co lại, gập xuống…Chúng ta không có một lớp trí thức tiền chiến lớn –đó là điều cần nhìn thẳng và suy nghĩ.Đến thếhệchúng tôi, dầu muốn dầu không, chúng tôi cũng kếthừa họ. Cảchất ươn hèn lẫn sựkhôn ngoan vặt của họ. Chúng tôi vừa coi thường họvì chúng tôi biết nhân cách của họcũng chỉlằng nhằng thếthôi, lại vừahọc bài học đau đời của họ: phải biết sợđểmà sống.Sựkếthừa ấy còn kéo dài đến cảthếhệsau chúng tôi, trong tình thếbây giờlại còn pha thêmnhững tạp chất cơ hội và lưu manh; tất nhiên không phải ởtất cả, nhưng đại thểlà như vậy.Các anh thường hỏi: tại sao chúng ta chưa có tác phẩm lớn? Tôi xin trảlời: vì chúng ta chưa có những nhân cách lớn.Đổi mới trong xã hội và trong văn nghệmấy năm qua đã đem lại những gì? Có tác phẩm khá hơn, có đời sống văn học nghệthuật phong phú sinh động hơn. Nhưng nói thật cũng chưa có gì ghê gớm đặc sắc lắm đâu. Và cũng không phải là cái quan trọng nhất.Thành quảquan trọng nhất vừa qua, theo tôi, là sựbắt đầu nhận ra, bắt đầu ý thức và khôi phục cái vịthế, cái tư cách đàng hoàng, độc lập, tựdo, trách nhiệmcủa người cầm bút, ởtrong chính người cầm bút, trước đất nước, nhân dân và Đảng của mình.Đó là sựgiải phóng bên trong của người nghệsĩ, tựdo bên trong thật sựcủa người cầm bút. Theo tôi, cái ấy đã bắt đầu, đã bắt đầu có. Và sựthức tỉnh đó là quyết định, tức là không thểđảo ngược được, dầu còn rất nhiều đau đớn và trảgiá.Nếu phải nói một điều gì đó vềĐại hội nhà văn sắp tới thì tôi xin nói: tôi tin Đại hội sẽdiễn ra theo hướng đó. Và như vậy là đáng mừng, cho Đảng, cho đất nước, cho văn học.Nhưng hình như các anh lại lo lắng vềchính cái điều tôi cho là đáng mừng đó, các anh vội tìm cách ngăn lại. Có lẽcũng ít chếđộnào nâng niu chăm sóc bao cấp cho văn nghệsĩ bằng chếđộta. Nhưng đó là kiểu nuôi nấng o bếmột đám con hát, một đám cung văn.Chúng tôi không cần cái ấy, chúng tôi chiến đấu cho một tư thếđộc lập, tựdo đàng hoàng và đầy trách nhiệm của nhà văn trước đất nước…Anh Tùng lắng nghe, không cắt lời tôi. Cuối cùng anh bảo:–Vấn đềanh nêu ra là đáng suy nghĩ, có chỗtôi đòng ý, cũng có chỗchưa đồng ý. Lần khác ta sẽtrao đổi tiếp.Trước khi ra về, tôi nói:

34–Tôi không còn làm báo Văn nghệnữa. Nếu còn làm thì dựđịnh của tôi là sau mảng đềtài nông thôn, tôi sẽtriển khai tiếp vấn đềquan trọng hơn là vấn đềtrí thức…Không thấy anh nói gì.Cũng không thấy anh mời tôi đến chơi nữa.*Những điều tôi nói với anh Đào Duy Tùng hôm đó thật sựlà những điều tâm huyết của tôi suốt thời gian tôi “nắm”tờbáo Văn nghệ. Khi không ởbáo nữa,đó vẫn là tâm huyết của tôi trong mọi việc tôi còn có thểlàm chút gì đó cho văn học. Và cũng là, trước hết, tựlàm cho chính tôi. Tựgiải phóng mình.Trong mỗi chúng ta, đều có một kẻnô lệ. Lạthay cái chếđộcủa chúng ta, cái chếđộkhát khao hơn bất cứthời đại nào trước giải phóng cho đất nước, cho con người… cuối cùng lại đi đến vùi dập, bóp nghẹt con người. Lại làm đậm thêm cái chất nô lệtrong con người.Tôi biết, tôn tin rằng những người cầm bút, đặc biệt những cây bút trẻ, đã ý thức ngày càng rõ điều ấy, và quyết phá vỡra. Mỗi người một cách,ởnhững mức độkhác nhau.Nguyễn Khải rụt rè nói về“cái thời lãng mạn ấy”. Tính anh vốn thế, chẳng quyết liệt bao giờ. Nhưng tôi nhận ra, đằng sau cái rụt rè còn mong manh ấy một cái cười chua chát tựchếriễu mình. Được chừng ấy cũng đã là quý lắm rồi.Nguyễn Minh Châu lầm lì nhưng liều lĩnh, tuyên bốAi điếu cho một thời văn nghệminh hoạ. Bài đưa ra tòa soạn, nhiều anh em rất ngại, nhưng tôi cứquyết định đăng. Bởi tôi biết Nguyễn Minh Châu cốmột trận quyết rứt mình ra đểđi tới, chuyển sang một trận khác. Tôi cảm phục anh và biết tiếng nói của anh sẽgiúp thêm nghịlực cho bao nhiêu người còn chần chừ.Dương Thu Hương vừa đằm thắm –ít ai viết được vềngười mẹquê Việt chúng ta đậm sâu như chịtrong Những thiên đường mù–lại vừa đáo để, đến cảhỗn xược –cũng trong chính Những thiên đường mù.Phạm ThịHoài táo tợn muốn tháo bỏtất cảmọi ràng buộc, cho đến cảnhững khu vực có tính bản năng của con người. Cây bút nữấy chẳng chút xấu hổmuốn lột trần trụi con người ra trước chính nó. Tôi biết nhiều lúc chịhơi quá thông minh và điệu đà. Nhưng tôi ủng hộchị. Cũng là một cửa mởcho sựgiải phóng.Nguyễn Huy Thiệp thì đã hoàn toàn khác. Mọi giá trịtừng được thờcúng với anh đều trởthành trần tục hết. Anh không ngại đến cảthô lỗvà tục tĩu khi lạnh lùng phanh phui sựthật. Con dao mổấy quá sắc, quá lạnh, nhiều khi đến chối. Nhưng đểbắt đầu lại, làm lại một thếgiới người cho ra người khác, tránh sao được những cuộc phá vỡcó khi tàn bạo?Tôi đăng Thiệp không phân vân.

35Những sáng tác trên báo Văn nghệthời ấy không phải cái nào cũng là văn chương,–tôi biết. Nhiều người trách: tờbáo hạthấp văn chương. Nguyễn Đình Thi làm tạp chí Tác phẩm mớichủtrương văn chương phải sang trọng.Tôi thì lúc này tôi nghĩ khác: cuộc cày xới thì ngổn ngang. Tôi chấp nhận cái ngổn ngang ấy. Nó xới lên hơi đất hôi hổi của cuộc sống thực.Rồi đến một lúc mới có thểBước qua lời nguyềnvà Nỗi buồn chiến tranh.Không ai sang trọng được khi đang cầy vỡruộng.Lại cũng có người trách: tôi tâng bốc quá đáng lớp trẻ, làm mất lòng bao nhiêu người già.Có lẽquảcó thếthật. Tâng bốc thì không đúng.Nhưng đặt nhiều lòng tin vào họthì có. Tôi biết cuộc phá vỡnày quá quyết liệt, đểlớp người đã nặng nợnhiều với quá khứkhó có thểđủsức làm nổi.Vềsau tờbáo bịkết tội gây bè phái chia rẽlàm rối tung nội bộHội nhà văn. Tôi thì tôi muốn nói chính xác hơn: nó làm phân hóa rõ rệt lực lượng trong cuộc đi tới quằn quại dữdội này của văn học. Cái tội đó, nó xin chịu.*Tháng 12-1988, sựnứt vỡđã không còn cứu vãn được nữa. Những thếlực chống lại sựđi tới đã căm tức đến cực độ. Sựphân hóa đã quá lớn.Còn tôi thì quá nhiều sơ hởvụng vềđểcho trận địa của mình bịtiến đánh từmọi phía. Một trong những vụng vềnguy hiểm là tôi đã đểcho tờbáo nhô lên quá nhọn. Trong đội hình đi tới chung của báo chí, và có thểcủa cảxã hội lúc này đang có phần bịđẩy chững lại. Trong chiến đấu, cáikhối lồi lù lù như thếtất sẽbịgạt đi cho kỳđược.Tôi ra đi là phải.Biện pháp đã được dùng đểđẩy tôi đi có thểlà vụng về, thô bạo. Nhưng chẳng quan trọng gì cái chuyện ấy. Có thểkhéo hơn, lịch sựnhẹnhàng hơn một chút. Nhưng rồi tất cũng thếthôi.Nhiều anh chịem ấm ức bảo tôi cốkéo dài thêm. Trưa ngày hôm ấy, 2-12-1988, tôi nói:–Thôi, đủrồi!Trước cuộc họp toàn thểtòa soạn, Chính Hữu đọcquyết định “thuyên chuyển công tác”tôi. Tôi bảo:–Tôi chẳng chuyển đi đâu cả. Tôi chỉthôi công việc ởđây.Và hỏi:

27Trong hội nghịBan chấp hành tháng 9-1988, Nguyễn Đình Thi yêu cầu Ban chấp hành biểu quyết Ban chấp hành nhất trí tán thành nội dung Tờtrình đã gửi lên Ban bí thư từtháng 6-1988.Anh Nguyễn Văn Bổng không chịu. Anh bảo:–Tôi có đồng ý cái tờtrình ấy đâu mà biểu quyết nhất trí!Bàn cãi lung tung một lúc, Nguyễn Đình Thi lại nảy ra sáng kiến:–Vậy đềnghịhội nghịbiểu quyết tán thành rằng Ban thư ký có quyền gửi một tờtrình lên Ban bí thư Trung ương.Ơ, tôi ngạc nhiên. Gửi một tờtrình thì ai mà chẳng có quyền. Tôi cũng giơ tay nè. Quay lại, thấy Nguyễn Khoa Điềm vẫn ngồi im, nhất định không chịu giơ tay. Điềm nói:–Tôi cũng là uỷviên Ban thư ký. Nếu là tờtrình của Ban thư ký thì chỉcần Tổng thưký hoặc một phó thay mặt Tổng thư ký ký. Đằng này có ba người ký. Vậy là thếnào? Vậy đấy không phải là một tờtrình của Ban thư ký. Đấy là một hành động có tính chất bè phái của ba người ấy.Tôi phục lăn Nguyễn Khoa Điềm. Anh là người làm chính trịthật. Giỏi thế. Tôi vẫn chỉlà cái anh nghệsĩ tùy tiện, lang thang.Nguyễn Minh Châu, lúc này đã ốm nặng lắm, bảo tôi:–Có cái tờtrình đó là đểđi đến diệt tờbáo đấy. Cậu chuẩn bịtinh thần đi là vừa. Nhưng cứphải giữvững cho đến cùng, cho đến phút chót. Sốcậu khổđấy.Châu nói đến cái sốkhổcủa tôi. Anh không hềnói đến cáisốcủa anh. Những ngày ấy, căn bệnh hiểm nghèo đã phá vỡgần hết hồng huyết cầu của anh.Cũng vềchuyện cái tờtrình đó, đâu vào khoảng tháng 10-1988, một hôm ngồi với Nguyễn Khải ở43 Đồng Khởi Sài Gòn, nói chuyện gần suốt buổi, Khải bảo tôi:–Nhiều suy nghĩ của Ngọc, mình tán thành cả, Ngọc cũng biết rồi. Nhưng việc ông đểcho tờbáo đi theo con đường ấy thì mình rất lo. Mình lo có những người, những lực lượng muốn dùng tờbáo, dùng cảcái Hội của ta, cho những mục đích chính trịriêng của họ. Rất nguy hiểm.Tôi nói:–Thôi được, những suy nghĩ, những mối lo của từng người trong chúng ta có thểkhác nhau. Nhưng trong quan hệbạn bè và quan hệcùng làm việc với nhau, có một cái ranh giới không thểvượt qua được, nếu đã cùng tin nhau, cùng làmviệc với nhau vì một ý hướng chung. Ông ký tên dưới cái tờtrình nọlà ông đã vượt qua cái ranh giới ấy rồi đấy. Như vậy là không được.Khải không nói gì nữa.

28Gần hai tháng sau, khi ởHà Nội người ta đưa tôi đi khỏi báo Văn nghệ, đột ngột Nguyễn Khải từSài Gòn gửi ra một bức điện: “Tôi không đồng ý thay tổng biên tập báo Văn nghệ”.Tất nhiên cái bức điện của vịphó Tổng thư ký Hội ấy có làm cho một sốngười ởHà Nội khó chịu, nhưng nó chẳng có tác dụng gì. Có lẽnó chỉcó một chút tác dụng nào đó đối với chính Khải thôi.Tôi hiểu Khải, người bạn rất lâu năm của tôi, từngày “Ơ, cái thằng này nó biết đọc tiếng Tây chúng mày ơi!”9ii.Tôi hiểu bi kịch của Khải. Có lẽtrong cái cuộc vừa qua, anh là người buồn và cô đơn nhất.Anh biết tất cảnhưng vừa biết vừa thường làm ngược lại cái biết rất sắc sảo của anh. Anh cô đơn với chung quanh nhưng chắc còn gay go hơn, buồn hơn, cô đơn với chính mình.Có thời gian Nguyễn Khải hiểu lầm anh Trần Độ, nghi rằng anh Độmuốn loại Khải ra trong phương án dựkiến của anh. Nhưng tôi thì tôi biết rõ. Chính vào lúc quan hệgiữa Khải và tôi đang căng, lại thêm sựxúc xiểm của một sốkẻtrung gian, anh Trần Độnói với tôi:“Đừng nghĩ sai vềKhải. Hãy đọc những cái Khải viết. Cậu ấy có thểnói, làm thếnày thếkhác, nhưng trong cái viết, Khải vẫn rất rõ ràng, mạnh mẽ. Đó mới là cái chính…”.Gần đây, một hôm ởSài Gòn, Khải hỏi tôi:–Nghe nói sức khoẻanh Độyếu đi nhiều phải không?Tôi nghe trong giọng anh một mối lo chân thành, một tình cảm quý trọng thật sự.Con người nhưvậy đó. Chẳng đơn giản chút nào.Chính Hữu chắc chắn khác hẳn Nguyễn Khải. Khải chưa bao giờ, không bao giờlà công chức. Anh vừa sống trong một guồng máy chính quyền, quân đội, nhẫn nhục chịu sựchi phối của guồng máy nặng nềấy, trông anh lúc nào cũng buồn buồn, có chút gì đó như chán nản, lại vừa sống ngoài rìa bộmáy, thông minh và sắc sảo nhìn cái bộmáy ấy bằng đôi mắt mỉa mai, một sựmỉa mai pha lẫn bất lực. Anh chưa bao giờlà mộtnhà văn-chiến sĩ.không làm được và cũng không muốn nhận cái chức hiệu hùng hồn ấy; nhưng lại cũng không đủsức làm một người tựdo thật sự. Có lẽchẳng phải ngẫu nhiên mà một quyển tiểu thuyết gần đây của anh mang cái tên vừa to tát vừa buồn: Một cõi nhân gian bé tí.Nguyễn Minh Châu cũng có một quyển tiểu thuyết chưa kịp viết, định lấy tên là Cõi người. Châu muốn đắm mình, như một sinh linh bé nhỏ, trong cái đắm chìm khổđau kiếp người. Khải cũng nhìn thấy và muốn nói vềcái cõiấy, nhưng anh không đủsức, không dám thảhết mình vào đó như Châu. Anh vừa mỉa mai coi khinhcái guồng máy, vừa vẫn cứbám vào nó mà sống, đôi lúc còn tham gia sựvận hành của nó nữa.Khối mâu thuẫn ởKhải dường như cũng là khối mâu thuẫn của không ít trí thức ởta bây giờ.Chính Hữu thì không được đến vậy. Anh bịcông chức hóa sâu hơn, liên tục hơn, dài hơn và đậm hơn nhiều. Tư thếcông chức tận tụyvà nghiêm túc giết đi gần hết cái phần nhà thơ từng có thểtài hoa, con người vốn từng lãngmạn trong anh. Anh cưỡng lại ngày một yếu

29ớt, và cuối cùng tựmình trởthành một bộphận của cái thếlực bắtcon người phải quy phục mà chính anh từng là nạn nhân của nó.Đấy cũng là một thứbi kịch, càng đáng buồn hơn.ỞChính Hữu tôi thường thấy cùng một lúc hai thái độsống chừng nhưđối nghịch: anh không thíchnhiễu sự, có phần an phận nữa là khác, nhưng lắmkhi lại cũng rất dữdằn, quyết liệt gây sự. Tôi tin rằng trong con người ấy cũng từng có sựgiằng xé, nhưng sựgiằng xé ngày càng yếu đi, mòn mỏi, đến gần như chẳng còn gì.Những con người như vậy sẽxa dần đời sống sinh động thực –không phải chỉđời sống xã hội hỗn độn bên ngoài. Họxa dần, mất liên lạc dần và đến mất hẳn, tắt hẳn mọi liên lạc với đời sống phức tạp và hạnh phúc, khát vọng và quằn quại bên trong con người.Lời nói độc địa và hỗn xược của Chính Hữu coi công chúng thời ấy của báo Văn nghệchỉlà đám người u mê xúm quanh “cô gái cởi truồng đứnggiữa ngã tưđường”còn tờbáo thì chính là cô gái ô uếnọ, tôi tin rằng anh hoàn toàn nghĩ thật, nói thật. Anh không hềlỡlời đâu. Tôi dận gót giầy đùng đùng xuống mặt sàn gỗcăn phòng gác hai 65 Nguyễn Du và hung hăng mắng lại anh, là một hành động nóng giận tức thời của tôi lúc ấy. Nhưng rồi sau đó tôi buồn nhiều hơn giận.Không, anh không hiểu nổi cuộc chiến đấu của chúng tôi, của tôi. Nói thếnày thì nghe kiêu căng quá, nhưng thật vậy: nó ởngoài tầm với của anh. Biết làm sao?Trong hội nghịBan chấp hành Hội Nhà văn tháng 9-1988 họp nhờởhội trường nhà khách Trung ương Đoàn 15 HồXuân Hương, tuyệt đại đa sốBan chấp hành kết tội kịch liệt báo Văn nghệ, thông qua một cái nghịquyết chấn chỉnh tờbáo “vềmặt tổchức”, tức là sẽcách chức người phụtrách báo, anh Nông Quốc Chấn là người lên án báo dữdội nhất. Đến giờgiải lao, ra hành lang, anh hỏi tôi:–Tôi nói thế, anh có giận không?Tôi cười:–Chẳng chuyện gì mà giận. Chỉcó điều anh lạchậu quá, theo tôi anh chậm mất khoảng mười năm đấy.Vềsau tôi kểlại với Nguyễn Khoa Điềm. Điềm bảo:–Anh nói thếlà còn ít quá đấy!Quảthực cuộc đi tới gian nan và kịch liệt của xã hội, mà văn học như một mũi thăm dò tiên phong, đã chia rẽchúng tôiquá xa. Có người bảo là bè phái. Tôi không thấy như vậy. Tôi thấy đấy là một sựchia rẽsâu sắc. Cần gọi cho đúng cái tên của nó.*

30Trước Đại hội Nhà văn lần thứIIIvài tháng, anh Đào Duy Tùng, là ủy viên BộChính trị, đứng đầu phụtrách công tác tư tưởng, có mời tôi đến chơi. Chắc không phải “đến chơi”,bởi đến chơi thì mời vềnhà riêng. Anh mời tôi đến chỗlàm việc của Ban bí thư Trung ương Đảng, đường Nguyễn Cảnh Chân. Vậy tức là “làm việc”.Tôi biết sắp Đại hội Nhà văn rồi, các anh có lo lắng vềtôi. Việc tôi đi khỏi báo Văn nghệvậy mà ầm ĩ khá rộng và lâu, đến gần Đại hội lại càng rộlên, căng hơn. Chắc chắn trong Đại hội –mà lần này là đại hội toàn thể–nhiều người sẽđặt lại vấn đềtờbáo. Thậm chí có nguy cơ một sốkhông ít anh chịem sẽli khai khỏi Hội, nếu việc báo Văn nghệkhông được giải quyết thỏađáng. Và việc báo Văn nghệthì trực tiếp liên quan đến tôi. Tôi bỗng nhiên trởthành một thứđiểm trung tâm chúý của hai phía. Nhiều anh chịem muốn dựng tôi thành một thứ“ngọn cờđấu tranh”(!). Cấp trên thì lo không biết thái độcủa tôi trong Đại hội sẽnhưthếnào?Anh Đào Duy Tùng mời tôi đến hẳn là vì chuyện này thôi.Kỳthực sau vụbáo Văn nghệtôi muốn đứng ra ngoài cuộc. Có buồn, bực bội ít lâu, nhưng rồi tâm trạng tôi lại thanh thản. Bởi vì tôi tin rằng tôi đã làm xong một công việc cần thiết và đúng lúc, do tình thếgiao vào tay tôi một năm rưỡi ấy. Công việc đã làm ởbáo có hay có dở, có đúng có sai, vụng vềvà lầm lẫn cũng có, nhưng tôi cho rằng vềcơ bản tờbáo Văn nghệđã làmtròn vai trò tất yếu của nó trong một bước đi tất yếu của xã hội và của văn học. Bước ấy đã xong, văn học sẽtựnó đi tiếp bước khác, có thểcòn phức tạp, gian nan, mệt mềhơn, nhưng không gì cản lại được nữa.Tôi tin. Hồi ấy, trên một tờbáo, tôi có nói:“Tôi là người lạc quan”.Phần riêng tôi, tôi chỉcòn một lo lắng và đau khổ, lớn hơn nhiều: tôi vẫn chưa trởlại viết được!Anh Lê Ngọc TrảtừSài Gòn viết thư ra cho tôi:“Ởtrong này anh em vẫn nhắc đến anh và biết tin vui buồn vềanh. Anh em thương anh nhiều. Riêng tôi, tôi nghĩđợt này nếu anh có thì giờtập trung viết một cái gì đó, chắc sẽrất hay. Văn học là nỗi đau mà. Người đang đau như anh có nhiều điều đểnói hay lắm. Huống chi ởanh vốn sẵn có chất trữtình rất đậm và sâu của người vùng Trung Bộ. Chất trữtình ấy không nên thơ bay bổng bằng như chất thơ xứBắc, nhưng nó hấp dẫn và cuốn hút lắm…”Tôi gặp Lê Ngọc Trà lần đầu tiên là ởMaskova, sau khi đã đăng bài Văn học và chính trịcủa anh ít lâu.Lê Ngọc Trà đang bảo vệluận án tiến sĩ. Đêm Maskova rét không thểtưởng, đâu đến âm 30 hay 35 độ. Chúng tôi dìu nhau đi lang thang trên các hè phốvắng ngắt và băng đóng trơn như mỡ. Chúng tôi nói với nhau vềnhững triển vọng và khát khảo của văn học ta. Tôi đềnghịLê Ngọc Trà sau bài Văn học vàchính trịrồi, bây giờchuyển viết tiếp cho chúng tôi vấn đềVăn học và hiệnthực. Trà bảo:–Anh suy nghĩ vậy là đúng rồi. Tôi cũng đang nghĩ vấn đềấy. Phải lần lượt cốgắng giải quyết một sốvấn đềcơ bản anh ạ.Trà hỏi:–Tình hình ởnhà, sau nghịquyết 05 của Bộchính trị, như thếnào?Tôi nói:

31–Cái nghịquyết ấy thật hay, nhưng có phần hơi sớm hơn tình hình chung. Cơ sởxã hội cho một nghịquyết như vậy ởta chưa có đủ. Cho nên tôi chắc sắp tớinó (cái nghịquyết ấy) sẽrất vất vả, thậm chí có thểbịđẩy lùi. Nhưng dầu saocũng đã cắm được một cái mốc mới. Quan trọng lắm…Hơn tháng sau, trởvềHà Nội, tôi nhận được bài Văn học và hiện thựccủa Lê Ngọc Trà. Đó là một trong những bài lý luận văn học cơ bản nhất trên mặt báo, suốt thời gian tôi làm Văn nghệ…. Lê Ngọc Trà bảo là tôi “đang đau”. Tôi rất hiểu anh: anh hoàn toàn không muốn nói là tôi đau vì tôimất chức,cũng không phải là nỗi đau của một phen trảgiá. Cứcho là nỗi đau đi thì đấy là do tôi hiểu đời và hiểu người hơn, hay chính xác hơn, tôi hiểu chính tôi hơn. Cuộc vật lộn vừa qua rốt cuộc, lạthế, lại đưa tôi đến chỗđối diện với chính mình. Với cảcuộc đời mình.Tôi hiểu ra rằng đất nước, dân tộc này đang đối diện với chính mình. Văn học đang đối diện với chính mình. Từng người cũng vậy. Tôi cũng vậy.Đối diện, và cốtựtìm hiểu chính mình, cuộc đời mình, toàn bộhành trình và hành trang của chính mình. Một sựcốgắng vào loại khó khăn nhất, ráo riết và đau đớn nhất. Đòi hỏi dũng cảm lớn nhất.Tôi lại muốn đi lang thang. Hình như trong khi đi lang thang, dễsuy nghĩ hơn…Cho nên, thật tình tôi cho rằng sựlo lắng của các anh, của anh Tùng vềcái “thái độ”của tôi ởĐại hội nhà văn sắp tới là lạc lõng và nhỏnhặt quá. Tôi chẳng quan tâm gì lắm đến chuyện ấy. Có quan trọng gì lắm đâu cái Đại hội, cảcái Hội ấy nữa, mà các anh lo đến sốt vó thế!…Quảnhiên anh Tùng hỏi tôi dựkiến Đại hội sẽthếnào? Theo tôi nên thếnào?Tôi nói thẳng với anh:–Tôi chẳng có ý kiến gì.Bởi vì, theo tôi, Đại hội lẫn cảcái Hội nữa chẳng quyết định gì đối với văn học đâu. Có một cái Hội nhà văntốt hay không tốt thì vềcơ bản cũng chẳng làm sao đối với văn học cả. Các anh quá lo, là lầm. Khó nhất đối với nhà văn là việc anh ta ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với cái “pháp trường trắng”của anh, như Nguyễn Tuân nói. Đối mặt với nó, chỉđộc có mỗi mình anh. Chẳng ai, chẳng thếlực, chẳng hội hè nào giúp được anh chút gì trong cuộc đối mặt cô đơn và khủng khiếp đó. Bởi đó là cuộc đối mặt của anh với chính anh. Bản chất của công việc sáng tác là vậy.Chỉmong đừng có ai làm phiền nhiễu thêm họkhi họngồi trước trang giấy, trước chính họ, trong cuộc đối chất đau đớn, khắc nghiệt đó. Hội hè tuyệt nhiên chẳng hỗtrợgì cho họlúc ấy đâu. Hỗtrợcho họlúc ấy, anh ạ–tôi nói –xin anh đừng ngạc nhiên,có khi chẳng hạn lại là sựcó mặt của một người đàn bà mà họyêu say đắm, vô lý và tuyệt vọng… Tôi xin lỗi anh, không biết anh có hiểu không?Thếđấy, vậy việc gì các anh phải quá lo lắng thế. Tôi e các anh nhầm. Vấn đềlà ởchỗkhác kia.–Ởchỗnào? –Anh Tùng hỏi.–Ởchính người sáng tác.–…?

32–Anh đã mời tôi đến, anh đã hỏi, thôi hôm nay tôi sẽxin nói. Tôi sẽnói vềmột vấn đềcó thểanh cho là lạc đềnhưng tôi lại nghĩ là quan trọng hơn nhiều.Tôi sẽnói vềgiới trí thức, giới “sĩ phu”ởnước ta, mà cũng chỉxin nói riêng trong văn nghệ. Tôi muốn đềnghịĐảng nhìn lại tận gốc vấn đềnày, bởi đây mới là vấn đềgốc.Hãy lấy ví dụnhư nước Nga, mà ta từng rấtgần. Trước Cách mạng tháng 10, nước Nga, dầu là nước Nga phong kiến, đã là một quốc gia độc lập lâu đời.Họcó một giới sĩ phu đàng hoàng, cao lớn, độc lập. Những nhân cách đại thụ, đại biểu cho cảdân tộc, cho cảnền văn minh không chỉcủa nước Nga. Những Tolstoi và Dostoievski, những Nekrassov và Tourgueniev, những Ghersen và Dobrolioubov, những Leskov và Garchin. Chính vì có truyền thống lớn đó, mà sau Cách mạng, cảtrong những năm đen tối nhất dưới chếđộStalin, họvẫn còn những tài năng và nhân cách sừng sững, có thểbịgiết chết chứkhông thểbịbẻgục: những Bounin và Pilniak, những Mandelstam và Tvardovski, những Soljenitsyn và Pasternak, những Tsetaieva và Akhmatova, những Boulgakov và Eisenstein… Họvẫn còn một nền văn học và nghệthuật lớn…Giới trí thức văn học nghệthuật ởta trước Cách mạng tháng Tám có một chỗmạnh và rất quan trọng: lòng yêu nước nồng nàn.Và cuộc cách mạng của chúng ta suốt mấy chục năm qua chủyếu là cuộc cách mạng cứu nước, giải phóng dân tộc. Hãy nhớlại xem: hầu hết lớp văn nghệsĩ ta thường gọi là tiền chiến, những người tên tuổi và tài năng nhất đều đi theo cách mạng và kháng chiến. Chúng ta chỉmất đôi ba người. Chẳng hạn trong hội hoạ, người tài năng nhất, Nguyễn Gia Trí, không đi với kháng chiến. Nhưng ông cũng không theo giặc. Ông vào Sài Gòn, cặm cụi vẽ, rồi sang Paris, vẫn cặm cụi vẽ. Trong âm nhạc, có lẽchúng ta mất một tài năng đáng tiếc: Phạm Duy… Nhưng cũng chỉđôi ba người, đếm được trên đầu ngón tay, vậy thôi. Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy Tưởng, Xuân Diệu, Tô Hoài, ChếLan Viên, Nam Cao, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Văn Cao… đều đi với Cách mạng, cho đến tận ngày nay. Thật quí, không dễgì được thế.Nhưng đồng thời, tôi mạnh dạn nghĩvà hôm nay nói rõ với anh, vềcơ bản lớp trí thức văn nghệtiền chiến ởta cũng chỉlà lớp trí thức nhỏbé của một nước thuộc địa nhỏbé. Một trong những nét tính cách bẩm sinh ởhọlà sựươn hèn. Một lớp sĩ phu ươn hèn. Những Phan Bội Châu, những Phan Châu Trinh đã hết.Trong giới chúng tôi có một người cầm bút lão thành vẫn được tiếng là người cương trực nhất. Tôi kính trọng ông. Đám tang ông, tôi đã làm rất to trên tờbáo của tôi. Nhưng tôi cũng biết cái cương trực của ông, nói cho cùng, cũng chỉlà cương trực… vặt. Người ta dại dột đi sơn cái Tháp Rùa, ông chửi vung lên. Xây nhà cao tầng nhiều quanh HồGươm, ông cũng lại chửi om lên, bảo là biến cái hồđẹp thếthành cái giếng mất… Vậy đó thôi. Chứnhững chuyện đại sựquốc gia, đã bao giờthấy ông dám có tiếng nói lớn, độc lập. Boulgakov có thểngửa tay xin Stalin một chân kéo màn rạp hátđểkiếm sống, nhưng nhà văn cổđiển của thời đại văn học xô-viết ấy, trong quan điểm và sáng tác của mình, đến chết không hềchịu lùi một li. Pasternak khi bịcảHội nhà văn Liên Xô la ó đuổi ra khỏi Hội vì cái giải Nobel trao cho ông, đã viết mấy chữgửi Hội nhà văn:“Tôi hiểu hoàn cảnh buộc các bạn phải làm việc này, tôi tha thứcho tất cảcác bạn”.Còn ông già tài hoa và cương trực của chúng tôi, ông biết ông vừa bịchếđộnghi ngờ, khinh rẻ, lại vừa được chếđộvì nể, ông bèn “làm nũng”với chếđộ, thỉnh thoảng lại làm mình làm mẩy đôi chút. Thếthôi. Ít lâu trước khi mất, ông tâm sựbuồn rầu và chua chát: “Mình còn sống được đến ngay nay là vì mình biết… sợ”.

33Trong mỗi vị“sĩ phu”ấy của chúng ta đều có một viên công chức nhỏbé của Tchekhov…Cái chất viên chức nhỏbé Tchekhov bẩm sinh đó, từsau Cách mạng lại bịmột loạt cuộc vùi dập thô bạo liên tục: cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, cải tạo này rồi đến cải tạo khác,tư tưởng văn nghệDiên An, các vụán văn nghệliên tiếp… càng làm cho nhỏbé thêm đi, co lại, gập xuống…Chúng ta không có một lớp trí thức tiền chiến lớn –đó là điều cần nhìn thẳng và suy nghĩ.Đến thếhệchúng tôi, dầu muốn dầu không, chúng tôi cũng kếthừa họ. Cảchất ươn hèn lẫn sựkhôn ngoan vặt của họ. Chúng tôi vừa coi thường họvì chúng tôi biết nhân cách của họcũng chỉlằng nhằng thếthôi, lại vừahọc bài học đau đời của họ: phải biết sợđểmà sống.Sựkếthừa ấy còn kéo dài đến cảthếhệsau chúng tôi, trong tình thếbây giờlại còn pha thêmnhững tạp chất cơ hội và lưu manh; tất nhiên không phải ởtất cả, nhưng đại thểlà như vậy.Các anh thường hỏi: tại sao chúng ta chưa có tác phẩm lớn? Tôi xin trảlời: vì chúng ta chưa có những nhân cách lớn.Đổi mới trong xã hội và trong văn nghệmấy năm qua đã đem lại những gì? Có tác phẩm khá hơn, có đời sống văn học nghệthuật phong phú sinh động hơn. Nhưng nói thật cũng chưa có gì ghê gớm đặc sắc lắm đâu. Và cũng không phải là cái quan trọng nhất.Thành quảquan trọng nhất vừa qua, theo tôi, là sựbắt đầu nhận ra, bắt đầu ý thức và khôi phục cái vịthế, cái tư cách đàng hoàng, độc lập, tựdo, trách nhiệmcủa người cầm bút, ởtrong chính người cầm bút, trước đất nước, nhân dân và Đảng của mình.Đó là sựgiải phóng bên trong của người nghệsĩ, tựdo bên trong thật sựcủa người cầm bút. Theo tôi, cái ấy đã bắt đầu, đã bắt đầu có. Và sựthức tỉnh đó là quyết định, tức là không thểđảo ngược được, dầu còn rất nhiều đau đớn và trảgiá.Nếu phải nói một điều gì đó vềĐại hội nhà văn sắp tới thì tôi xin nói: tôi tin Đại hội sẽdiễn ra theo hướng đó. Và như vậy là đáng mừng, cho Đảng, cho đất nước, cho văn học.Nhưng hình như các anh lại lo lắng vềchính cái điều tôi cho là đáng mừng đó, các anh vội tìm cách ngăn lại. Có lẽcũng ít chếđộnào nâng niu chăm sóc bao cấp cho văn nghệsĩ bằng chếđộta. Nhưng đó là kiểu nuôi nấng o bếmột đám con hát, một đám cung văn.Chúng tôi không cần cái ấy, chúng tôi chiến đấu cho một tư thếđộc lập, tựdo đàng hoàng và đầy trách nhiệm của nhà văn trước đất nước…Anh Tùng lắng nghe, không cắt lời tôi. Cuối cùng anh bảo:–Vấn đềanh nêu ra là đáng suy nghĩ, có chỗtôi đòng ý, cũng có chỗchưa đồng ý. Lần khác ta sẽtrao đổi tiếp.Trước khi ra về, tôi nói:

34–Tôi không còn làm báo Văn nghệnữa. Nếu còn làm thì dựđịnh của tôi là sau mảng đềtài nông thôn, tôi sẽtriển khai tiếp vấn đềquan trọng hơn là vấn đềtrí thức…Không thấy anh nói gì.Cũng không thấy anh mời tôi đến chơi nữa.*Những điều tôi nói với anh Đào Duy Tùng hôm đó thật sựlà những điều tâm huyết của tôi suốt thời gian tôi “nắm”tờbáo Văn nghệ. Khi không ởbáo nữa,đó vẫn là tâm huyết của tôi trong mọi việc tôi còn có thểlàm chút gì đó cho văn học. Và cũng là, trước hết, tựlàm cho chính tôi. Tựgiải phóng mình.Trong mỗi chúng ta, đều có một kẻnô lệ. Lạthay cái chếđộcủa chúng ta, cái chếđộkhát khao hơn bất cứthời đại nào trước giải phóng cho đất nước, cho con người… cuối cùng lại đi đến vùi dập, bóp nghẹt con người. Lại làm đậm thêm cái chất nô lệtrong con người.Tôi biết, tôn tin rằng những người cầm bút, đặc biệt những cây bút trẻ, đã ý thức ngày càng rõ điều ấy, và quyết phá vỡra. Mỗi người một cách,ởnhững mức độkhác nhau.Nguyễn Khải rụt rè nói về“cái thời lãng mạn ấy”. Tính anh vốn thế, chẳng quyết liệt bao giờ. Nhưng tôi nhận ra, đằng sau cái rụt rè còn mong manh ấy một cái cười chua chát tựchếriễu mình. Được chừng ấy cũng đã là quý lắm rồi.Nguyễn Minh Châu lầm lì nhưng liều lĩnh, tuyên bốAi điếu cho một thời văn nghệminh hoạ. Bài đưa ra tòa soạn, nhiều anh em rất ngại, nhưng tôi cứquyết định đăng. Bởi tôi biết Nguyễn Minh Châu cốmột trận quyết rứt mình ra đểđi tới, chuyển sang một trận khác. Tôi cảm phục anh và biết tiếng nói của anh sẽgiúp thêm nghịlực cho bao nhiêu người còn chần chừ.Dương Thu Hương vừa đằm thắm –ít ai viết được vềngười mẹquê Việt chúng ta đậm sâu như chịtrong Những thiên đường mù–lại vừa đáo để, đến cảhỗn xược –cũng trong chính Những thiên đường mù.Phạm ThịHoài táo tợn muốn tháo bỏtất cảmọi ràng buộc, cho đến cảnhững khu vực có tính bản năng của con người. Cây bút nữấy chẳng chút xấu hổmuốn lột trần trụi con người ra trước chính nó. Tôi biết nhiều lúc chịhơi quá thông minh và điệu đà. Nhưng tôi ủng hộchị. Cũng là một cửa mởcho sựgiải phóng.Nguyễn Huy Thiệp thì đã hoàn toàn khác. Mọi giá trịtừng được thờcúng với anh đều trởthành trần tục hết. Anh không ngại đến cảthô lỗvà tục tĩu khi lạnh lùng phanh phui sựthật. Con dao mổấy quá sắc, quá lạnh, nhiều khi đến chối. Nhưng đểbắt đầu lại, làm lại một thếgiới người cho ra người khác, tránh sao được những cuộc phá vỡcó khi tàn bạo?Tôi đăng Thiệp không phân vân.

35Những sáng tác trên báo Văn nghệthời ấy không phải cái nào cũng là văn chương,–tôi biết. Nhiều người trách: tờbáo hạthấp văn chương. Nguyễn Đình Thi làm tạp chí Tác phẩm mớichủtrương văn chương phải sang trọng.Tôi thì lúc này tôi nghĩ khác: cuộc cày xới thì ngổn ngang. Tôi chấp nhận cái ngổn ngang ấy. Nó xới lên hơi đất hôi hổi của cuộc sống thực.Rồi đến một lúc mới có thểBước qua lời nguyềnvà Nỗi buồn chiến tranh.Không ai sang trọng được khi đang cầy vỡruộng.Lại cũng có người trách: tôi tâng bốc quá đáng lớp trẻ, làm mất lòng bao nhiêu người già.Có lẽquảcó thếthật. Tâng bốc thì không đúng.Nhưng đặt nhiều lòng tin vào họthì có. Tôi biết cuộc phá vỡnày quá quyết liệt, đểlớp người đã nặng nợnhiều với quá khứkhó có thểđủsức làm nổi.Vềsau tờbáo bịkết tội gây bè phái chia rẽlàm rối tung nội bộHội nhà văn. Tôi thì tôi muốn nói chính xác hơn: nó làm phân hóa rõ rệt lực lượng trong cuộc đi tới quằn quại dữdội này của văn học. Cái tội đó, nó xin chịu.*Tháng 12-1988, sựnứt vỡđã không còn cứu vãn được nữa. Những thếlực chống lại sựđi tới đã căm tức đến cực độ. Sựphân hóa đã quá lớn.Còn tôi thì quá nhiều sơ hởvụng vềđểcho trận địa của mình bịtiến đánh từmọi phía. Một trong những vụng vềnguy hiểm là tôi đã đểcho tờbáo nhô lên quá nhọn. Trong đội hình đi tới chung của báo chí, và có thểcủa cảxã hội lúc này đang có phần bịđẩy chững lại. Trong chiến đấu, cáikhối lồi lù lù như thếtất sẽbịgạt đi cho kỳđược.Tôi ra đi là phải.Biện pháp đã được dùng đểđẩy tôi đi có thểlà vụng về, thô bạo. Nhưng chẳng quan trọng gì cái chuyện ấy. Có thểkhéo hơn, lịch sựnhẹnhàng hơn một chút. Nhưng rồi tất cũng thếthôi.Nhiều anh chịem ấm ức bảo tôi cốkéo dài thêm. Trưa ngày hôm ấy, 2-12-1988, tôi nói:–Thôi, đủrồi!Trước cuộc họp toàn thểtòa soạn, Chính Hữu đọcquyết định “thuyên chuyển công tác”tôi. Tôi bảo:–Tôi chẳng chuyển đi đâu cả. Tôi chỉthôi công việc ởđây.Và hỏi: